Trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến vấn đề tăng trưởng GDP và những giải pháp đột phá của Bộ Công Thương nhằm hỗ trợ các địa phương chưa đạt mục tiêu tăng trưởng tại Họp báo thường kỳ Quý III năm 2026 Bộ Công Thương diễn ra chiều 07/10/2026, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp cho biết, sản xuất công nghiệp trong 9 tháng năm 2026 đạt kết quả tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2019, trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,9%.
Theo ông Phạm Văn Quân, năm 2025, GDP tăng 8,02% trong khi sản lượng điện thương phẩm tăng khoảng 4,9%. Trong 9 tháng năm 2026, cùng với mức tăng 12,3% của chỉ số sản xuất công nghiệp, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%. Sự tăng trưởng tương đối đồng bộ giữa sản xuất công nghiệp và ngành điện cho thấy tăng trưởng kinh tế năm nay gắn rõ hơn với hoạt động sản xuất, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo.
Qua tìm hiểu và làm việc với các địa phương, Cục Công nghiệp ghi nhận một số địa phương như Hà Tĩnh, Phú Thọ và Bắc Ninh đã đạt hoặc vượt chỉ tiêu tăng trưởng công nghiệp đề ra trong năm 2026. Kết quả này có được nhờ sự đóng góp của các dự án mới đi vào hoạt động, các dự án được nâng công suất, cùng những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tại địa phương.
Dẫn ví dụ tại Phú Thọ, Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân cho biết, tỉnh đã cải cách hành chính, rút ngắn thời gian hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Dự án Nhà máy sản xuất, chế tạo vi mạch điện tử Meiko Yên Quang tại Khu công nghiệp Yên Quang chỉ trong 48 giờ, qua đó tạo điều kiện để dự án sớm được triển khai và đóng góp vào tăng trưởng công nghiệp của địa phương.
Đối với các địa phương chưa đạt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp đề ra, qua khảo sát và làm việc thực tế, Cục Công nghiệp nhận diện ba nhóm vấn đề chính ảnh hưởng đến kết quả thực hiện. Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp chỉ ra nhóm vấn đề thứ nhất gồm những địa phương có cơ cấu công nghiệp phụ thuộc nhiều vào khai khoáng hoặc sản xuất điện. Hoạt động của các ngành này chịu tác động lớn từ điều kiện thời tiết, thủy văn, trữ lượng tài nguyên và khả năng huy động công suất, do đó khó có thể gia tăng sản lượng trong thời gian ngắn.
Nhóm thứ hai là những địa phương tập trung nhiều ngành sản xuất thâm dụng lao động. Trước những biến động địa chính trị thời gian qua, chi phí logistics và giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất khiến kết quả tăng trưởng chưa đạt như kỳ vọng.
Nhóm thứ ba gồm các địa phương có hoạt động sản xuất phụ thuộc lớn vào thị trường nước ngoài. Những biến động về nhu cầu, đơn hàng và chính sách thương mại tại các thị trường xuất khẩu đã tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và tăng trưởng công nghiệp tại địa phương.
Trên cơ sở nhận diện các khó khăn, Cục Công nghiệp đã phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công Thương nghiên cứu giải pháp và hỗ trợ địa phương tháo gỡ vướng mắc trong Quý IV/2026. Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, Thứ trưởng Phan Thị Thắng và Thứ trưởng Trương Thanh Hoài đã trực tiếp làm việc với nhiều địa phương nhằm xử lý các điểm nghẽn liên quan đến những dự án lớn trong lĩnh vực công nghiệp và năng lượng, nhất là các vướng mắc về quy hoạch chồng lấn, thủ tục đầu tư và việc điều chỉnh, bổ sung các dự án trong Quy hoạch điện VIII. Các khó khăn được rà soát cụ thể theo từng địa phương, từng dự án để xác định phương án giải quyết phù hợp.
Bên cạnh đó, mặc dù Việt Nam nhập siêu gần 20 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, tuy nhiên, ông Phạm Văn Quân phân tích, cơ cấu hàng nhập khẩu cho thấy trên 90% là nguyên liệu, máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ sản xuất. Có thể nhìn nhận diễn biến này theo hướng lạc quan khi nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất gia tăng cho thấy doanh nghiệp đang tích lũy nguyên liệu, đầu tư thiết bị và chuẩn bị mở rộng hoạt động trong những tháng cuối năm.
Cùng với quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, cải cách thể chế và cắt giảm thủ tục hành chính, môi trường đầu tư, kinh doanh đang có những chuyển biến tích cực, qua làm việc, nhiều doanh nghiệp đánh giá cao những cải cách này, qua đó củng cố niềm tin và thúc đẩy kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất tại Việt Nam.
Liên quan đến Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân cho biết, công nghiệp xe điện là một ngành công nghiệp mới, đòi hỏi từng bước hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và hành lang pháp lý để bảo đảm hạ tầng sạc được vận hành an toàn, đồng bộ.
Ngày 29/9/2026, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 61/2026/TT-BCT kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện (QCVN 32:2026/BCT). Quy chuẩn hướng tới 5 mục tiêu chính, gồm: bảo đảm an toàn; nâng cao tính tương thích; minh bạch thông tin đối với người sử dụng; bảo vệ hệ thống điện; và xa hơn là hình thành hệ thống sạc thông minh.
Trong đó, an toàn được xác định là yêu cầu ưu tiên hàng đầu, bao gồm an toàn về điện, phòng cháy, chữa cháy, an toàn cho người sử dụng và phương tiện. Bên cạnh đó, quy chuẩn đưa ra các yêu cầu kỹ thuật nhằm bảo đảm tính tương thích, từng bước hướng tới hệ thống hạ tầng sạc thống nhất.
Dẫn ví dụ về việc Liên minh châu Âu yêu cầu các thiết bị điện tử sử dụng chuẩn kết nối USB Type-C, ông Phạm Văn Quân cho rằng quy chuẩn đối với trụ sạc cũng được xây dựng theo cách tiếp cận tương tự. Theo đó, các hãng xe khi tham gia thị trường phải tuân thủ những yêu cầu kỹ thuật nhất định, qua đó tạo điều kiện để các phương tiện có cổng sạc, loại đầu nối, chế độ sạc và cấu hình kỹ thuật tương thích có thể sử dụng chung hạ tầng sạc. Việc dùng chung hoặc chia sẻ trạm sạc sẽ được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa đơn vị đầu tư, vận hành và người sử dụng, phù hợp với điều kiện kỹ thuật và mục tiêu kinh doanh của các bên.
Ngoài ra, ông Phạm Văn Quân cũng thông tin thêm về phạm vi quản lý đối với trạm sạc đặt trong công trình xây dựng. Trong quá trình xây dựng quy chuẩn, Cục Công nghiệp đã lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan, trong đó có Bộ Xây dựng, theo đó phân định rõ quy chuẩn của Cục Công nghiệp sẽ tập trung vào trụ sạc - bộ phận cấu thành của trạm sạc. Các trụ sạc được lắp đặt trong công trình xây dựng bắt buộc phải đáp ứng quy chuẩn này. Tuy nhiên, trạm sạc đặt trong công trình còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về xây dựng và phòng cháy, chữa cháy. Do đó, trách nhiệm quản lý nhà nước được phân định rõ giữa Bộ Công Thương và các bộ, ngành liên quan, nhằm tránh chồng chéo và bảo đảm đầy đủ yêu cầu an toàn trong quá trình lắp đặt, quản lý, vận hành trạm sạc.
