Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Bài báo nghiên cứu “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” do Lâm Đông Hồ (Trường Đại học Kiên Giang) thực hiện.

Tóm tắt:

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam là hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội trong các vụ án hình sự, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án.

Từ khóa: thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tố tụng hình sự Việt Nam.

1. Đặt vấn đề  

Theo đề án hiện nay về sáp nhập Tòa án khu vực, Viện kiểm sát khu vực, trong chương trình xây dựng các Bộ luật, Luật phù hợp với Hiến pháp 2013, Nghị quyết số 203/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 16/6/2025 phải phù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu cải cách tư pháp, nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, bảo đảm việc xử lý kịp thời và nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, bảo đảm thực hiện dân chủ hơn nữa trong hoạt động tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có chức năng là cơ quan thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [5, tr 69].

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

a)  Quyền công tố  

Theo Từ điển tiếng Việt, công tố là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án”. Định nghĩa trên cho thấy, công tố là một chuỗi hoạt động độc lập, liên tiếp, kế tiếp nhau từ điều tra, truy tố đến buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Từ điển Luật học định nghĩa: “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội”. Theo đó, quyền công tố là quyền buộc tội (tức là quyền “buộc vào một tội gì, bắt phải nhận tội, chịu tội”), việc buộc tội này được thực hiện nhân danh quyền lực nhà nước, hướng tới đối tượng là người phạm tội. Buộc tội là một trong những chức năng cơ bản của tố tụng hình sự bên cạnh chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Trong đó, chức năng buộc tội là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện, chứng minh tội phạm và cáo buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội; là chức năng tiền đề, “khởi động” cho cả quá trình tố tụng hình sự, vì nếu không phát hiện, chứng minh được tội phạm và đề nghị xét xử thì tố tụng hình sự không thể tiến hành do không có đối tượng. Hiện nay, mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng có thể rút ra quyền công tố có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, quyền công tố là quyền lực của nhà nước. Nhà nước ủy quyền hoặc phân công cho một cơ quan cụ thể thực hiện quyền công tố trong bộ máy cơ quan nhà nước. “Bất cứ nước nào trên thế giới cũng phải sử dụng quyền công tố để chống lại những hành vi gây nguy hại đến sự thống trị và những lợi ích cơ bản của giai cấp cầm quyền và cũng để duy trì trật tự pháp luật, trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm ổn định và phát triển của toàn xã hội…”. Vì vậy, quyền công tố ra đời trên cơ sở sự cần thiết bảo vệ thiết chế xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trước những tác động đi ngược lại chuẩn mực chung của xã hội và trừng trị những hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội, nhất là những hành vi bị pháp luật coi là tội phạm, đó là một trong những chức năng của nhà nước và thực hiện chức năng của nhà nước. Nhà nước đại diện cho ý chí chung của toàn xã hội để buộc tội người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Sự buộc tội nhân danh công quyền là quyền công tố, nên quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước, tồn tại, phát triển và tiêu vong cùng với nhà nước.

Thứ hai, phạm vi của quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tư pháp hình sự (chỉ giới hạn trong lĩnh vực tố tụng hình sự). Buộc tội với tư cách là một hoạt động tố tụng hình sự nhằm chống lại người thực hiện tội phạm do chủ thể buộc tội có trách nhiệm đưa ra lời cáo buộc đối với người thực hiện tội phạm và chứng minh những cáo buộc đó bằng chứng cứ cụ thể, nên quyền công tố là quyền của nhà nước nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố có trách nhiệm chứng minh tội phạm và người phạm tội, truy tố ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.

Thứ ba, quyền công tố mang tính cụ thể, chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực hiện và đối với những người phạm tội cụ thể; quyền công tố đối với vụ án cụ thể xuất hiện từ khi tội phạm xảy ra và chấm dứt khi việc buộc tội kết thúc (bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can).

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm quyền công tố như sau: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước (theo sự phân công, ủy quyền) để thực hiện việc buộc tội người thực hiện tội phạm ra trước tòa án, đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, xuất hiện từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can”.

b) Thực hành quyền công tố

Qua nghiên cứu, có thể thấy, THQCT có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, THQCT do một chủ thể là cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện. Quyền công tố luôn là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước, nên gắn liền với cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia.

Thứ hai, THQCT là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước (ở Việt Nam là VKSND) và đối tượng bị áp dụng pháp luật là người bị buộc tội (người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội) theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, mối quan hệ giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Vì vậy, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, còn đối tượng của thực hành quyền công tố là người bị buộc tội.

Thứ ba, thời điểm bắt đầu THQCT là khi và chỉ khi tội phạm được phát hiện và cơ quan có thẩm quyền sử dụng quyền năng của mình để chứng minh tội phạm, kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định khác có ý nghĩa kết thúc quá trình buộc tội.

Thứ tư, THQCT là việc áp dụng các quyền năng do pháp luật tố tụng hình sự quy định để bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Để bảo đảm thực hiện việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã cụ thể hóa quyền công tố thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKSND trong các giai đoạn tố tụng (tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm và giai đoạn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Việc sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện các hoạt động tố tụng này chính là nội dung của THQCT. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “THQCT là việc VKSND thực hiện các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để buộc tội, đưa người thực hiện tội phạm ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa”.

c) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

Được quy định là cơ quan nhà nước duy nhất có chức năng THQCT (ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và xuyên suốt các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự), VKSND là cơ quan duy nhất đảm nhận chức năng truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước tòa án để xét xử. Căn cứ theo Điều 1 Quy chế Công tác THQCT, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (sau đây gọi chung là Quy chế) ban hành kèm theo Quyết định 505/QĐ-VKSTC năm 2017 quy định như sau:

+ Về Chức năng

Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Viện Kiểm sát có trách nhiệm:

1. THQCT nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội, không làm oan người vô tội, pháp nhân thương mại vô tội.

2. Kiểm sát việc xét xử nhằm kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xét xử, bảo đảm việc xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.

Như vậy, trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, VKSND có trách nhiệm như trên. Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC năm 2017 quy định như sau:

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi THQCT trong giai đoạn xét xử

1. Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Viện Kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 266 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 18 Luật Tổ chức VKSND và các quy định pháp luật khác có liên quan... Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm và đặc điểm THQCT trong giai đoạn xét xử như sau: THQCT trong giai đoạn xét xử là tổng hợp các hoạt động của Viện kiểm sát buộc tội người phạm tội, bắt đầu kể từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị”.

THQCT của Viện Kiểm sát trong giai đoạn xét xử có những đặc điểm về phạm vi, đối tượng và nội dung. Hoạt động THQCT của Viện Kiểm sát ở giai đoạn xét xử được thực hiện ở cả 3 thời điểm: trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa và sau khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Trong giai đoạn này, hoạt động THQCT của Viện Kiểm sát có sự phối hợp, đan xen, hỗ trợ với hoạt động kiểm sát xét xử, góp phần cùng với Tòa án ra bản án xử lý tội phạm nghiêm minh, công bằng, đúng pháp luật. Tuy nhiên, quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về THQCT trong giai đoạn xét xử mặc dù đã được ghi nhận khá đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều điểm vướng mắc, chưa có sự thống nhất cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng THQCT của Viện Kiểm sát trong giai đoạn xét xử. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử thì cần phải có các giải pháp đồng bộ, trong đó giải pháp hoàn thiện pháp luật là chủ đạo.

2.2. Vai trò của VKSND, THQCT trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp…”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, đã xác định rõ: “Trước mắt, VKSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp (…), tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” [3, tr 5].

Công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào bảo vệ Đảng, Nhà nước, góp phần làm tốt công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; bảo đảm an ninh trật tự, giữ vững kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và cuộc sống thanh bình của nhân dân. Một số vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Viện Kiểm sát đã THQCT như: Vụ án Ngân hàng Đại Tín, bị cáo Phạm Công Danh, Hứa Thị Phấn cùng đồng phạm; Vụ án Đinh La Thăng cùng đồng phạm trong vụ án tham ô, cố ý làm trái xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí (PVC); Vụ án Phan Văn Vĩnh, Phạm Thanh Hóa và đồng phạm tổ chức đánh bạc nghìn tỷ; Vụ án Phan Anh Vũ (Vũ Nhôm)...

Năm 2025, các vụ án xảy ra đặc biệt nghiêm trọng, VKSND đã THQCT như: Vụ án đưa - nhận hối lộ liên quan “chuyến bay giải cứu”; Vụ án ông Trịnh Văn Quyết “Thao túng thị trường chứng khoán”; Vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh và các tổ chức, đơn vị có liên quan; đồng thời, ra các quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Đỗ Anh Dũng và 6 bị can đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Vụ án liên quan Vạn Thịnh Phát: Bắt "đại gia" Trương Mỹ Lan đối với bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”…

2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử theo quy định của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam

2.3.1. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên VKSND các cấp THQCT trong giai đoạn xét xử theo quy định của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ được giao phụ thuộc rất lớn vào năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mỗi Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân. Vì vậy, để chất lượng áp dụng pháp luật được tốt thì bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ là nhiệm vụ hàng đầu. Bởi vì, người Kiểm sát viên dù ban đầu có hiểu biết rộng, am hiểu thì vẫn cứ phải thường xuyên cập nhật các thông tin kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật. Có như vậy họ mới đủ tầm để giải quyết công việc được giao. Trong điều kiện giao lưu quốc tế mở rộng, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập chắc chắn sẽ phát sinh nhiều loại tranh chấp mới, công việc xét xử ngày càng tăng, tính chất vụ việc ngày càng phức tạp thì trách nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên ngày càng nặng nề. Vì vậy, nếu Kiểm sát viên không thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao năng lực trình độ, không chú trọng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức thì sẽ không thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao.

Thực tiễn áp dụng pháp luật THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự theo quy định của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam luôn sinh động và đa dạng, phong phú, mỗi vụ án là một quan hệ pháp luật, với các văn bản quy phạm pháp luật được chọn để áp dụng khác nhau. Ẩn chứa trong từng hồ sơ vụ án là thân phận của những con người đang chờ sự phán xét công minh, có tình, có lý của Kiểm sát viên. Do vậy, việc không ngừng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, thực tiễn không chỉ giúp cho người Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó mà còn để phục vụ tốt hơn cho con người, bảo vệ kịp thời, đúng pháp luật các quyền của công dân, quyền của con người mà Hiến pháp và pháp luật của nước ta ghi nhận.

2.3.2. Giải pháp về nghiệp vụ

Một là, Lãnh đạo VKSNDTC cần tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ cho VKSND cấp dưới THQCT trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được thi hành nhiều năm, Tuy nhiên, đến nay chỉ có 2 lần tổ chức học tập nghiệp vụ về những điểm mới của Bộ luật mà chưa có những chuyên đề sâu về các nội dung mới để hướng dẫn nghiệp vụ cho các VKSND cấp dưới (đặc biệt theo đề án hiện nay, sáp nhập Viện kiểm sát khu vực, bỏ Viện kiểm sát cấp huyện).

Hai là, Toàn ngành VKSND nghiên cứu xây dựng cuốn sổ tay Kiểm sát viên. Cuốn sổ tay đem lại lợi ích rất lớn, giúp Kiểm sát viên thực hiện các biện pháp nghiệp vụ một cách chính xác, có hệ thống và đặc biệt đối với những cán bộ mới, cuốn sổ tay rút ngắn thời gian tiếp cận nghiệp vụ thực tiễn nhiều giúp cho việc xử lý công việc bằng các biện pháp nghiệp vụ được tiến hành thuận lợi.

Ba là, thông qua công tác rút kinh nghiệm, VKSNDTC cần đẩy mạnh rà soát, tổng hợp báo cáo về việc Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm của các địa phương để đánh giá và rút kinh nghiệm nghiệp vụ chung cho toàn ngành, từ đó nâng cao chất lượng nghiệp vụ của Kiểm sát viên THQCT trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam.

2.3.3. Giải pháp quản lý, chỉ đạo, điều hành và đào tạo bồi dưỡng cho Kiểm sát viên

Theo yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới, nhiều vấn đề phát sinh từ quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống VKSND đặt ra cần giải quyết và mang tính cấp bách như: Quản lý hành chính trong công tác tổ chức cán bộ; Quản lý hành chính trong sử dụng ngân sách nhà nước cấp; Quản lý hành chính trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Như vậy, để giải quyết những vấn đề trên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới, cần phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống VKSND. Do đó, cần phải  nâng cao công tác về quản lý, chỉ đạo, điều hành và đào tạo bồi dưỡng cho Kiểm sát viên.

Một là, VKSND các cấp cần sớm kiện toàn công tác nhân sự, chọn lựa, bố trí sắp xếp biên chế có năng lực phù hợp để thực hiện công tác THQCT trong giai đoạn xét xử. Phải đảm bảo những phiên tòa có sự tham gia của VKSND đều phải có Kiểm sát viên tham dự, vì nếu vắng Kiểm sát viên phiên tòa sẽ không bị hoãn như trước đây. Do đó yêu cầu sự chuẩn bị về nhân sự trước mỗi phiên tòa là rất cần thiết, trong bối cảnh thực hiện chỉ đạo của trung ương về việc tinh giảm biên chế như hiện.

Hai là, Lãnh đạo VKSNDTC chỉ đạo Vụ THQCT và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7) phối hợp với Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học VKSNDTC, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Phân hiệu Trường Đại học Kiểm sát tại TP. Hồ Chí Minh nghiên cứu biên soạn các chương trình tập huấn về công tác THQCT và kiểm sát xét xử hình sự, để tập huấn cho Kiểm sát viên làm công tác THQCT và tổ chức thi cấp chứng chỉ kết thúc các đợt tập huấn một cách nghiêm túc để nâng cao ý thức, nhận thức của cán bộ.

3. Kết luận

Nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là yêu cầu đặt ra đối với toàn ngành kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, công dân. Trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự, các quyền cơ bản của con người được coi là nhiệm vụ trong tâm của công cuộc cải cách tư pháp. Do đó, việc đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự nói chung, cũng như nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam là rất cần thiết và mang tính chất cấp bách, đặc biệt trong xu hướng toàn cầu hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bộ Chính trị (2005). Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010.

Bộ Chính trị (2005). Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển Tiếng việt, NXB Thanh niên.

Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Quốc hội (2014). Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (Luật số 63/2014/QH13 ngày 24/11/2014)

Quốc hội (2015). Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012). Giáo trình Luật Tố tụng hình sự, NXB Hồng Đức.

Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp.

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2017). Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự.

 

Exercising the right to prosecute at trial under Vietnamese Criminal Procedure Law

Lam Dong Ho

Kien Giang University

Abstract:

Exercising the right to prosecute at the trial stage under Vietnamese Criminal Procedure Law constitutes a core function of the People’s Procuracy in ensuring the State’s criminal accusation is carried out effectively and lawfully. This activity begins from the moment denunciations, crime reports, and requests for prosecution are processed, and continues throughout the stages of investigation, prosecution, and adjudication. The Procuracy’s role at trial is therefore not isolated but forms part of a continuous prosecutorial process aimed at safeguarding legality, ensuring accurate fact-finding, and upholding the rights of individuals and organizations involved in criminal proceedings.

Keywords: practice of prosecution, People's Procuracy, Vietnam Criminal Procedure Law.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 31 năm 2025]

Tạp chí Công Thương