Thực thi phí BVMT đối với nước thải: Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở Việt Nam

Phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải nói chung và đối với nước thải công nghiệp nói riêng là một trong những công cụ kinh tế được áp dụng chủ yếu trên thế giới nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễ
Ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (Mỹ, Đan Mạch, Pháp, Đức...) và các nước đang phát triển (Ba Lan, Malaysia, Phillipin,…) đều đã thành công trong việc thu phí BVMT đối với nước thải. Có thể tóm tắt kinh nghiệm về hệ thống phí nước thải của một số nước như sau: 

Kinh nghiệm một số nước trên thế giới

Đức:
Là nước có hệ thống lệ phí ô nhiễm môi trường nước có tác dụng khuyến khích làm giảm ô nhiễm rõ ràng nhất. Các cơ quan Trung ương lập ra khuôn khổ chung cho chế độ lệ phí, quy định chỉ tiêu tối thiểu chất lượng nước ở tầm quốc gia, các tiêu chuẩn cho từng ngành công nghiệp, đồng thời, xác định danh mục các chất gây ô nhiễm phải chịu phí và mức phí phải đóng hàng năm. Đặc biệt, nếu các tiêu chuẩn được thực hiện tốt thì mức lệ phí phải nộp sẽ được giảm đi. 

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ:
Theo Luật làm sạch nước năm 1972 và đạo luật “Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước”, Mỹ thu phí ô nhiễm đối với tất cả các thành phần ô nhiễm và quy định ngưỡng ô nhiễm cho các chất riêng biệt. Phí ô nhiễm được áp dụng tại tất cả các bang trên nước Mỹ, nhưng mỗi bang lại có cách thu phí và mức phí khác nhau. 

Phillipin:
Thực hiện thí điểm thu phí BVMT đối với nước thải ở vùng Vịnh The Laguna de bay năm 1997, áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp trọng điểm có mức thải trung bình hàng năm trên 4 triệu tấn BOD, sau đó nhân rộng ra tất cả các doanh nghiệp khác trên địa phận của Vịnh. Cơ cấu phí bao gồm: Phí cố định và phí biến đổi. Phí cố định phụ thuộc vào lượng nước thải và số lượng mẫu cần lấy để quan trắc hiện trạng môi trường doanh nghiệp. Phí biến đổi dựa trên lượng phát thải của BOD hoặc TSS, mức phí tùy thuộc vào nồng độ chất thải trong nước thải. Năm 2003, Chính phủ Phillipin nhân rộng việc áp dụng thu phí nước thải trong phạm vi cả nước, nhưng có điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả của phí. Đó là, phần phí cố định phụ thuộc vào lượng nước thải và thành phần nước có chứa kim loại nặng hay không; phí biến đổi áp dụng đồng loạt 5.000 peso/tấn với tất cả các đơn vị ô nhiễm chứ không phân biệt đơn vị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn hay dưới tiêu chuẩn. 

Malaysia:
Cơ quan quản lý môi trường quy định các chất thải gây ô nhiễm môi trường như: BOD, Cd, Cr, Pb, Hg,… phải chịu suất phí nhất định dựa trên nồng độ các chất này có trong chất thải. Qua đó, các cơ sở xả thải sẽ phải trả một mức phí tương ứng với khối lượng và nồng độ các chất có trong nước thải. Việc thu phí này đã hạn chế được lưu lượng nước thải xả ra môi trường và giúp cơ quan quản lý môi trường nắm bắt được tình trạng môi trường nước thải thông qua việc quan trắc môi trường nước thải của các cơ sở gây ô nhiễm. 

Thực tiễn ở Việt Nam
Để hạn chế ô nhiễm do nước thải, ngày 13/6/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải và ngay sau đó, Việt Nam bắt đầu triển khai thực thi phí nước thải. Tuy nhiên, việc thu phí đã nảy sinh nhiều bất cập, tỷ lệ thu phí chưa cao, đặc biệt, chưa đạt mục tiêu giảm xả thải ô nhiễm vào môi trường. 

Theo dự thảo Nghị định mới, mục tiêu của Chính phủ là nhằm nâng cao ý thức BVMT, tiết kiệm khi sử dụng nước. Các loại phí được áp dụng bảo đảm tính công bằng, minh bạch. Một số điểm mới so với Nghị định 67/2003/NĐ-CP gồm: bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở kinh doanh có nước thải ra môi trường, như rửa ô tô, xe máy là đối tượng bị điều chỉnh phải đóng phí nước thải; sẽ áp dụng hai loại hình phí mới: phí cố định, là mức phí áp dụng đối với các đối tượng nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, trong đó sẽ phân loại đối tượng theo đánh giá tác động môi trường và cam kết BVMT. Phí biến đổi sẽ được áp dụng đối với các đối tượng có quy mô lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hai loại hình phí này đã được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới... 

Phí nước thải sẽ là công cụ được áp dụng rộng rãi nhất trong số các công cụ kinh tế. Việc áp dụng phí nước thải không gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, mà góp phần đáng kể làm giảm ô nhiễm nước vào tạo nguồn thu cho công tác BVMT. Để việc thu phí hiệu quả cần hệ thống kiểm tra, giám sát tốt, xử phạt nghiêm minh những đơn vị không đóng phí. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp để tăng tính công khai, minh bạch của các số liệu xả thải.