Trong đó, Việt Nam ước xuất khẩu đạt 655 triệu usd, nhập khẩu đạt 45 triệu USD, xuất siêu khoảng 610 triệu USD, bằng 93% kim ngạch xuất khẩu.
Các mặt hàng xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng đa dạng. Hầu hết các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 20 triệu USD đều là mặt hàng công nghiệp, chế biến sâu và có giá trị gia tăng cao như: điện thoại di động, xơ sợi các loại, máy vi tính, hàng dệt may.
Bảng: ước kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ 6 tháng đầu năm 2014
Đơn vị tính: triệu usd
Mặt hàng xuất khẩu
Ước XK 6 tháng 2014
Điện thoại các loại và linh kiện
297,0
Xơ, sợi dệt các loại
118,0
Máy vi tính, linh kiện điện tử
32,0
Hàng dệt, may
29.0
Hàng hóa khác
179,0
Tổng cộng
655,0
Mặt hàng điện thoại di động và linh kiện
Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện thoại di động và linh kiện sang Thổ Nhĩ Kỳ tăng trưởng mạnh mẽ, ước 6 tháng năm 2014 sẽ đạt gần 300 triệu USD, tăng 80% so với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng trưởng này cao hơn hẳn so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước (khoảng 30%). Qua đó, mặt hàng điện thoại di động và linh kiện tiếp tục có đóng góp cao nhất (chiếm khoảng 45%) vào tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.
Tuy nhiên, các số liệu về kim ngạch xuất khẩu điện thoại di động chưa thực sự phản ánh hết tiềm năng của thị trường. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện sang Thổ Nhĩ Kỳ mới chỉ chiếm trên 2% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2014. Trong khi đó, thị trường Thổ Nhĩ Kỳ có những thuận lợi khá nổi bật như: dung lượng lớn với khoảng 80 triệu dân, có GDP bình quân đầu người hơn 10.000 usd và là cửa ngõ đi vào các khu vực thị trường rộng lớn như châu Âu, Trung Đông.
Mặt hàng xơ sợi, sản phẩm dệt may
Thổ Nhĩ Kỳ là một nước có ngành dệt, may phát triển rất mạnh và tương đối đồng đều ở cả ngành công nghiệp phụ trợ, nguyên liệu và may mặc các sản phẩm thông thường và cao cấp. Do đó, hàng năm Thổ Nhĩ Kỳ có nhu cầu rất lớn về nguyên liệu cũng như các sản phẩm dệt may.
Đáng chú ý là trong những năm gần đây, do có lợi thế cạnh tranh tốt nên mặt hàng xơ sợi của Việt Nam xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ với kim ngạch lớn. Số liệu ước tính 6 tháng đầu năm đạt khoảng 118 triệu USD chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước.
Cũng chính vì lý do có kim ngạch tương đối lới và tốc độ tăng trưởng kim ngạch cao nên, mặt hàng xơ sợi của Việt Nam thường là đối tượng áp dụng của các biện pháp phòng vệ thương mại mà Thổ Nhĩ Kỳ khởi xướng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Tuy vậy, nhờ nỗ lực của các doanh nghiệp xuất khẩu, xơ sợi Việt Nam vẫn có thị trường ổn định tại nước này.
Riêng đối với sản phẩm dệt may, do Việt Nam lợi thế có nguồn nhân lực giá rẻ, nên nhiều doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ có đơn hàng lớn tiêu thụ trong nước hoặc là xuất khẩu sang các thị trường thứ ba khác như châu Âu, châu Mỹ sang Việt Nam đặt hàng sản xuất, gia công nên tuy chiếm tỉ trọng chưa cao so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng hàng dệt may xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ có xu hướng ổn định.
Mặt hàng máy tính, linh kiện điện tử
Đây là mặt hàng rất tiềm năng khi mà nhiều công ty đa quốc gia có chi nhánh ở cả Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện các phương án điều chỉnh sản xuất theo hướng tập trung vào những nơi có lợi thế cạnh tranh cao. Đối với ngành sản xuất linh kiện điện tử, cấu thành chính tạo thành một sản phẩm đó là: hàm lượng trí tuệ (bằng phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp), thông thường thuộc sở hữu của công ty mẹ, dễ dàng điều chuyển khắp nơi trên thế giới, nguyên nhiên liệu hầu hết cũng thuộc loại phổ thông, chỉ có một số loại nguyên liệu đặc biệt cũng do công ty mẹ sở hữu. Do đó, lợi thế cạnh tranh trong ngành này chính là lực lượng lao động dồi dào và kỹ năng của người lao động. Với lợi thế về nguồn nhân lực, Việt Nam ngày càng chứng tỏ là điểm đến hợp lý cho các nhà sản xuất linh kiện điện tử lớn trên thế giới.
Trong thời gian tới, các cơ quan của Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp hai nước cần triển khai những biện pháp cụ thể, trên cơ sở hợp tác chặt chẽ hơn, tránh gây phức tạp trong quan hệ thương mại song phương, bình đẳng, tăng cường trao đổi thông tin về năng lực sản xuất, thúc đẩy hợp tác sản xuất công nghiệp dệt may từ nguyên phụ kiện đến các sản phẩm may mặc, hợp tác trao đổi thông tin về mặt hàng (kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng, giá cả…), nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại mặt hàng điện thoại di động và linh kiện điện tử vì lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
