Trần Thị Kim Quế có một khởi đầu rất thuận lợi là sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Là con út trong gia đình có 3 anh chị em đều học giỏi. Anh, chị lớn học đại học ở nước ngoài, Kim Quế ở nhà cùng bố mẹ và chọn học Trường Đại học Bách khoa. Thời ấy, vào được Bách khoa là niềm tự hào và mơ ước của nhiều thanh niên. Đến đây, định mệnh đã sắp đặt cho chị, khi ngành định học là Điện - tự động hoá, nhưng cuối cùng chị lại được phân vào khoa Chế tạo máy.
Năm 1985, Kim Quế tốt nghiệp đại học về nhận công tác tại Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp (IMI) trong vai trò là một nhân viên KCS chuyên về đo lường chất lượng. Chị tâm sự: “Cái may của mình là được vào làm việc cùng các kỹ sư dày dạn kinh nghiệm nên đã học được ở các anh chị đi trước một tinh thần làm việc bền bỉ, biết chấp nhận những cái khó của thời kỳ bao cấp để kiên trì theo đuổi những ý tưởng mà mình từng ấp ủ khi còn ngồi ở giảng đường đại học”.
Chị đã học được những người đi trước cách thiết kế, giải quyết các vấn đề trong nghiên cứu khoa học và lựa chọn các giải pháp hợp lý. Để tích lũy kiến thức, người ta thường thấy chị có mặt dưới xưởng sản xuất để ghi chép các thông số, tập hợp đầy đủ các thông tin để đưa ra những đánh giá chuẩn xác. Phương châm của chị là “biết lắng nghe, học hỏi và áp dụng có chọn lọc những ý kiến của đồng nghiệp cho công việc của mình”. Thiếu tài liệu, chị cạy cục nhờ bạn bè ở nước ngoài gửi về. Chị học thêm tiếng Anh và tiếng Nga để có thể đọc được sách nước ngoài phục vụ cho công việc nghiên cứu.
Xóa bỏ bao cấp, làn gió đổi mới đã tạo điều kiện cho chị phát huy hết phẩm chất của một nhà khoa học hiện đại. Chị hiểu rất rõ, muốn khoa học tồn tại thì phải gắn nó với sản xuất và ứng dụng. Muốn vậy, không chỉ làm khoa học thuần tuý mà phải biết gắn với nhu cầu của thị trường. Chị bảo “Làm nghiên cứu khoa học thì vất vả lắm, nhưng biết gắn với nhu cầu của thị trường thì không những đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà còn từng bước cải thiện đời sống CBCNV, có thế mới yêu khoa học được”. Ra cơ chế thị trường, chị tự tin vào trình độ chuyên môn của mình, không hề thua kém các chuyên gia nước ngoài, nhưng chị biết “điểm yếu của mình là kỹ năng quản lý. Người Việt Nam mình trình độ quản lý chưa tương xứng với trình độ chuyên môn”. Thế nên, đụng đâu chưa biết là chị đi học. Suốt quãng thời gian từ năm 1992 đến nay, chị liên tục đăng ký tham gia các khóa học ngắn ngày và dài ngày về kỹ năng quản lý, về chuyên môn ở trong nước và nước ngoài. Đi theo các dự án thì tốt, còn không chị tự bỏ tiền đi học. Chị bảo “mình không có thời gian để theo học một cách bài bản, đành phải cố gắng thiếu gì học đó”. Vì vậy, mới hơn 40 tuổi, chị đã kinh qua các khóa đào tạo tại Hà Lan, Anh, Singapore, Malaysia, chưa kể các trường đại học danh tiếng trong nước. Đi đến đâu, thấy có gì hay là chị tìm hiểu bằng được, để có thể áp dụng vào công việc của mình. Chị Quế nhớ lại, hồi năm 1998, nhân dịp tham dự khoá học về thiết kế khuôn nhựa ở nước ngoài, trước hôm về chị có dạo qua thị trường để mua ít quà, thấy họ bán giá để giầy (loại giá để giầy nhiều tầng), chị mua một bộ về tháo ra nghiên cứu, thiết kế cải tiến mẫu mã, thiết kế khuôn mẫu và sản xuất hàng loạt bán ra thị trường. Bây giờ, sản phẩm này đã quen thuộc với người tiêu dùng.
Nhưng cái tên Trần Thị Kim Quế thực sự được biết đến trong giới chế tạo máy phải đến khi chị cùng các đồng nghiệp sản xuất thành công máy cắt gas plasma dùng trong ngành đóng tàu. Số là năm 1998, chị được lãnh đạo Viện giao nhiệm vụ đi cùng đoàn khảo sát các nhà máy đóng tàu. Suốt quá trình đi khảo sát, bằng sự quan sát chuẩn xác cộng với sự nhạy bén, Kim Quế đã đề xuất và được Viện tin tưởng giao tham gia đề tài nghiên cứu cải tiến máy cắt gas plasma cho ngành công nghiệp đóng tầu. Được sự ủng hộ của lãnh đạo Viện và sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, Kim Quế đã sản xuất thành công loại máy này. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là ứng dụng nó vào đâu thì không hề đơn giản vì đây là công nghệ mới, khi đưa vào sản xuất, số lượng công nhân dôi dư sẽ tăng cũng tạo nên những khó khăn cho doanh nghiệp. Viện chọn giải pháp chuyển máy và hướng dẫn công nghệ cho Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng dùng miễn phí, chỉ cần để chiếc máy được ứng dụng là đủ. “Nhưng mà thật may cho mình – Kim Quế hồ hởi kể – lúc đó Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng lại đang ký một hợp đồng đóng mới loạt tàu 6.500 tấn theo thiết kế và đăng kiểm của Nhật Bản. Toàn bộ bản vẽ do Nhật gửi sang đều được khai triển dưới dạng bản vẽ CAD – 2D để có thể lập trình trên máy tính, cán bộ mình không biết làm thế nào? Trước đây công nghệ đóng tầu VN là phóng dạng – lấy dấu trên tờ tôn và cắt bằng tay. Lúc này, máy cắt gas – plasma điều khiển CNC ra đời đã giải quyết được khâu ách tắc này”, chuyển sang công nghệ mới thiết kế lập trình và gia công tự động (công nghệ CAD/CAM). Với công nghệ này đảm bảo độ chính xác, nâng cao năng suất, tính thẩm mỹ, từ đó đảm bảo chất lượng đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của khách hàng Nhật Bản. Sau thành công này, Viện được Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng mua chiếc máy đó với giá xấp xỉ 550 triệu đồng, và đặt hàng Viện chế tạo thêm một chiếc nữa. Các nhà máy đóng tàu trong nước cũng bắt đầu tìm đến Viện để đặt mua máy cắt này. Cho đến nay, Viện đã chế tạo 30 chiếc máy cho các nhà máy đóng tàu.
Con đường sự nghiệp của chị trải dài, mỗi bước đi đều phải trả bằng sự lao động cật lực với niềm đam mê không bao giờ cạn. Chị nói: “Một người làm khoa học, nếu không có tính kiên trì thì không thể làm khoa học. Nhưng một nhà khoa học nếu không có sự đam mê thì không thể thành công”. Sự nỗ lực của chị đã được đền đáp. Từ một nhân viên KCS, chị đã lần lượt trưởng thành qua các chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm khuôn mẫu và máy CNC, Giám đốc Trung tâm và bây giờ là Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Khuôn mẫu chính xác và máy CNC có uy tín trong ngành cơ khí chế tạo máy. Người ta đánh giá chị là một phụ nữ hoàn hảo bởi vừa làm quản lý, vừa tham gia công tác đoàn thể (Trưởng ban nữ công Viện IMI), vừa làm tròn bổn phận của một người mẹ người vợ, vậy mà vẫn là một cây tennis xuất sắc của Viện. Chị cũng luôn nhận được sự giúp đỡ và động viên của chồng, hiện là cán bộ quản lý một công ty lớn thuộc PETROLIMEX.
Tôi hỏi, chị bố trí thời gian thế nào để một ngày chị có thể làm được nhiều việc đến thế ? Chị bảo, nếu bố trí khoa học thì vẫn làm được. Với hai cô con gái, chị dạy bảo thật chu đáo cho cô chị và dạy cháu cách dạy lại những điều đó cho em gái. Bây giờ, công việc nội trợ gia đình chị đã có thể rảnh rang một chút vì hai cháu đã lớn, có thể giúp mẹ được. Chiều nào có lịch đi tập tennis chị đều cố gắng thực hiện vì “tập thể thao cho khoẻ người, hơn nữa đó cũng là cách giải tỏa stress”.
Năm 2003, nhận nhiệm vụ làm Tổng Giám đốc CTCP Khuôn mẫu chính xác và máy CNC, đối với chị là một thử thách rất lớn bởi lúc đó Công ty đang gặp nhiều khó khăn, công việc ít, thu nhập CBCNV chưa ổn định, những người có kinh nghiệm lần lượt ra đi. Mình chị bên cạnh đội ngũ kỹ sư trẻ măng chưa hề có kinh nghiệm. Mỗi ngày khi tỉnh dậy, chị lại lo làm sao có lương trả cho 60 cán bộ công nhân của Công ty. Mỗi đêm khi trở về nhà, chị lại trăn trở làm thế nào để kiếm được việc làm. Nhưng rồi, bằng khả năng giao tiếp, đàm phán, bằng các mối quan hệ sẵn có của mình, bằng sự nhạy bén của một người quyết đoán dám nghĩ, dám làm, chị dần dần khôi phục được các hoạt động của Công ty. Chỉ trong chưa đầy 3 năm, Công ty đã thoát khỏi cảnh khó khăn, làm ăn có lãi và hiện nay đang trên đà phát triển. Cuối năm 2005, Công ty còn hoàn thành quá trình thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000 và được Tập đoàn GLOBAL (Anh) cấp giấy chứng nhận. Với hệ thống này, uy tín của Công ty với các bạn hàng càng được nâng cao, sản phẩm máy CNC do Công ty sản xuất bắt đầu xuất khẩu sang các nước Thái Lan, Bangladest… Cùng sự lớn mạnh của Công ty, chị đã đào tạo được đội ngũ kỹ sư dày dạn kinh nghiệm và đầy nhiệt huyết, say mê nghiên cứu khoa học, mang các ứng dụng của khoa học công nghệ vào cuộc sống.
Năm 1999, Kim Quế vinh dự đứng trong nhóm tác giả được nhận Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Vifotech. Năm 2005, chị cùng các đồng nghiệp Viện IMI vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Vào dịp 8/3 năm 2006 này, chị lại thêm một lần lên bục vinh quang để nhận giải nhất “Sáng tạo khoa học nữ” ngành Côngnghiệp năm 2005. Với chị, con đường phía trước còn dài. Và chị, người phụ nữ của thời đại mới luôn “vận động và vận động không ngừng” chắc chắn sẽ còn gặt hái được nhiều thành công. Đất nước này rất cần những người phụ nữ như chị.
