Từ mái nhà xưởng đến dây chuyền sản xuất: Đi tìm giá trị trong từng Kilowatt giờ

Không chỉ là câu chuyện giảm tiền điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang trở thành một phần trong bài toán tổ chức sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp Bắc Ninh, từ kiểm soát phụ tải, thay đổi thiết bị đến khai thác nguồn điện tại chỗ. Khi mỗi kilowatt giờ được nhìn như một khoản chi phí cần quản trị, bài toán năng lượng bắt đầu gắn trực tiếp với hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hóa đơn điện và câu chuyện phía sau những con số

Một hóa đơn tiền điện có thể không nói hết câu chuyện sản xuất của một nhà máy, nhưng lại cho thấy khá rõ quy mô và đặc điểm sử dụng năng lượng của doanh nghiệp.

Tại Công ty cổ phần Tổng công ty may Bắc Giang LNG, một bảng kê hóa đơn tiền điện do Công ty Điện lực Bắc Ninh phát hành cho kỳ từ ngày 1 đến ngày 10/7/2026 ghi nhận tổng sản lượng điện tiêu thụ 168.847 kWh. Doanh nghiệp sử dụng điện ở cấp điện áp 35 kV, phục vụ sản xuất trong cả ba khung giờ bình thường, cao điểm và thấp điểm.

Trong 10 ngày, lượng điện tiêu thụ vào giờ bình thường là 112.966 kWh; giờ cao điểm 52.752 kWh và giờ thấp điểm 3.129 kWh. Tiền điện trước thuế được tính là 390,04 triệu đồng; sau thuế giá trị gia tăng 8%, số tiền phải thanh toán là hơn 421,24 triệu đồng.

Đáng chú ý, điện sử dụng trong giờ cao điểm chiếm hơn 31% tổng sản lượng của kỳ hóa đơn. Đây là một con số đáng để doanh nghiệp quan tâm, bởi trong sản xuất công nghiệp, tiết kiệm năng lượng không chỉ nằm ở việc thay một thiết bị tiêu thụ nhiều điện bằng thiết bị hiệu suất cao hơn. Cách bố trí lịch sản xuất, điều chỉnh phụ tải, hạn chế vận hành những thiết bị công suất lớn vào giờ cao điểm cũng có thể tác động trực tiếp đến chi phí năng lượng.

sản xuất

Dây chuyền sản xuất tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG. Ảnh: Văn Vĩnh.

 

Những con số trên hóa đơn điện vì thế trở thành một căn cứ trực quan để nhìn vào cách doanh nghiệp đang sử dụng nanw3g lượng, từ lượng điện tiêu thụ đến mức độ tập trung phụ tải trong từng khung giờ, qua đó đặt ra yêu cầu kiểm soát chi phí điện gắn với tổ chức sản xuất.

Đó không còn là yêu cầu chung chung về “sử dụng điện tiết kiệm”, mà là câu hỏi doanh nghiệp có thể kiểm soát được bao nhiêu điện năng, vào thời điểm nào và bằng giải pháp nào.

Từ giảm tiêu thụ đến quản trị năng lượng

Với các doanh nghiệp may mặc, sản xuất càng mở rộng thì nhu cầu điện cho dây chuyền chiếu sáng, điều hòa, thông gió, và các thiết bị phụ trợ càng lớn, kéo theo yêu cầu phải kiểm soát chặt hơn chi phí năng lượng trong quá trình sản xuất.

Vì vậy, mục tiêu của sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không nhất thiết là làm cho nhà máy “dùng ít điện hơn” bằng mọi giá. Điều quan trọng hơn là sử dụng cùng một lượng năng lượng để tạo ra nhiều giá trị hơn, hoặc tạo ra cùng một sản lượng với mức tiêu hao thấp hơn.

Đây cũng là hướng tiếp cận được Bắc Ninh đặt ra trong Kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2026-2030. Theo Quyết định 594/QĐ-UBND ngày 8/4/2026, tỉnh đặt mục tiêu trong giai đoạn này tiết kiệm từ 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường, tiết kiệm điện hằng năm tối thiểu 2% và giảm tổn thất điện năng xuống dưới 2,5% vào năm 2030.

Đối với khu vực sản xuất, kế hoạch đặt mục tiêu 90% khu công nghiệp và 70% cụm công nghiệp áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm được yêu cầu hướng tới áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001, thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và triển khai các giải pháp tiết kiệm theo tiềm năng được xác định.

Những mục tiêu này cho thấy cách tiếp cận của địa phương đã chuyển dần từ tuyên truyền tiết kiệm điện sang quản trị năng lượng có đo lường, kiểm toán và theo dõi kết quả.

Điện mặt trời trên mái nhà: thêm một nguồn điện tại chỗ

Trong bài toán đó, điện mặt trời mái nhà được đặt alongside với các giải pháp tiết kiệm điện chứ không phải thay thế cho tiết kiệm điện.

Ngày 20/4/2026, UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Kế hoạch số 122/KH-UBND triển khai Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Kế hoạch đặt mục tiêu năm 2026 tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn tỉnh; đồng thời triển khai các chương trình quản lý nhu cầu điện, điều chỉnh phụ tải, hướng tới giảm công suất vào những thời điểm cao điểm khi hệ thống có nguy cơ mất cân đối cung - cầu.

Một trong những định hướng đáng chú ý là phát triển điện mặt trời mái nhà theo hướng tự sản xuất, tự tiêu thụ, kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng khi phù hợp. Kế hoạch cũng định hướng đến năm 2035 tổng công suất điện mặt trời mái nhà trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 3.392 MW; đồng thời thúc đẩy 217 doanh nghiệp sử dụng điện lớn đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất định hướng tối thiểu 515 MW.

Ở cấp độ doanh nghiệp, ý nghĩa của nguồn điện tại chỗ nằm ở khả năng giảm một phần điện mua từ lưới trong thời gian hệ thống điện mặt trời phát ra điện, đồng thời có thể hỗ trợ giảm phụ tải vào những thời điểm phù hợp. Nhưng hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc vào đặc điểm phụ tải của từng nhà máy, công suất hệ thống, thời gian vận hành và phương án sử dụng lượng điện tạo ra.

Bởi vậy, đầu tư điện mặt trời không nên được nhìn như một phép tính đơn giản giữa công suất lắp đặt và số tiền điện giảm được. Với nhà máy sản xuất, hiệu quả phải được đặt trong tổng thể quản trị năng lượng, bao gồm cả thiết bị, lịch vận hành, phụ tải và khả năng sử dụng điện tại chỗ.

Khi doanh nghiệp bắt đầu tính từng kilowatt giờ

Theo số liệu doanh nghiệp cung cấp trong hồ sơ, trước khi đầu tư các giải pháp tiết kiệm năng lượng và điện mặt trời, mức sử dụng điện của nhà máy khoảng 551.000 kWh/tháng. Sau khi triển khai giải pháp, lượng điện mua từ lưới được doanh nghiệp ghi nhận ở mức khoảng 325.605 kWh.

Doanh nghiệp cho biết mức tiết kiệm bình quân khoảng 250.000 kWh mỗi tháng, tương đương khoảng 640 triệu đồng tiền điện mỗi tháng. Đây là số liệu do doanh nghiệp cung cấp để đánh giá hiệu quả của giải pháp và cần được hiểu là số liệu báo cáo của đơn vị, không phải số liệu được suy ra trực tiếp từ một kỳ hóa đơn đơn lẻ.

Doanh nghiệp cũng cho biết tổng mức đầu tư cho hệ thống và các giải pháp liên quan khoảng 21,6 tỷ đồng, thời gian hoàn vốn dự kiến khoảng 3,7 năm.

Những con số này, nếu được đối chiếu đầy đủ bằng chuỗi hóa đơn, dữ liệu sản xuất và số liệu vận hành trước - sau đầu tư, sẽ cho phép đánh giá rõ hơn hiệu quả thực tế của dự án. Trong phạm vi hồ sơ hiện có, chưa đủ dữ liệu để lập bảng so sánh điện năng của từng tháng trong 6 tháng đầu năm 2026. Vì vậy, việc đánh giá nên dừng ở những số liệu đã có căn cứ, tránh biến một kỳ hóa đơn thành đại diện cho cả một giai đoạn.

Cách tiếp cận thận trọng này cũng cần thiết bởi sản lượng điện của nhà máy luôn biến động theo đơn hàng, số ngày sản xuất, công suất dây chuyền và thời điểm vận hành. Một nhà máy tiêu thụ nhiều điện chưa chắc là sử dụng năng lượng kém hiệu quả; ngược lại, mức tiêu thụ giảm cũng chưa đủ để khẳng định hiệu quả nếu sản lượng sản xuất đồng thời giảm.

Thước đo quan trọng hơn là lượng năng lượng sử dụng trên một đơn vị sản phẩm và mức chi phí năng lượng trong tổng chi phí sản xuất.

Từ mái nhà đến dây chuyền

Điện mặt trời mái nhà thường là phần dễ nhìn thấy nhất khi nói về chuyển dịch năng lượng trong nhà máy. Nhưng phía dưới những tấm pin là cả một hệ thống giải pháp ít trực quan hơn: thay đổi thiết bị, tối ưu lịch vận hành, kiểm soát điều hòa và chiếu sáng, quản lý máy nén khí, theo dõi phụ tải và từng bước hình thành hệ thống quản trị năng lượng.

Kế hoạch 2026-2030 của Bắc Ninh cũng đặt vấn đề theo hướng này khi đồng thời đề cập đến hỗ trợ kỹ thuật, kiểm toán năng lượng, hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001, điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và các giải pháp công nghệ khác.

sản xuất

Điện mặt trời mái nhà của Samsung Việt Nam tại Khu công nghiệp Yên Phong. Ảnh: Thái Uyên

Đáng chú ý, Kế hoạch 122/KH-UBND còn yêu cầu các doanh nghiệp chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên thiết bị, máy móc có hiệu suất cao. Với những cơ sở sử dụng năng lượng có điện năng tiêu thụ từ 500.000 kWh/năm trở lên, mục tiêu tiết kiệm được đặt ở mức ít nhất 3% điện năng tiêu thụ trên một đơn vị sản phẩm hoặc 3% tổng điện năng tiêu thụ trong năm.

Như vậy, câu chuyện năng lượng trong một nhà máy đang dần dịch chuyển từ việc “tiết kiệm được bao nhiêu tiền điện” sang câu hỏi rộng hơn: mỗi đơn vị sản phẩm tiêu tốn bao nhiêu năng lượng, phụ tải tập trung vào thời điểm nào, phần điện nào có thể thay thế bằng nguồn tại chỗ và khoản đầu tư nào thực sự đem lại hiệu quả.

Không chỉ là chuyện của một nhà máy

Đối với một địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp cao như Bắc Ninh, những câu hỏi đó có ý nghĩa lớn hơn phạm vi từng doanh nghiệp.

Kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2026-2030 của tỉnh dự kiến tổng kinh phí thực hiện hơn 71 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương, địa phương và các nguồn khác. Cùng với các mục tiêu về tiết kiệm năng lượng, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50% tòa nhà công sở và 50% hộ dân sử dụng điện mặt trời mái nhà; 100% đơn vị hành chính sự nghiệp tiết kiệm ít nhất 5% điện năng, riêng các đơn vị có điện mặt trời mái nhà đạt mức 10%.

Đây là cách tiếp cận cho thấy tiết kiệm năng lượng không còn được đặt riêng trong phạm vi của ngành điện. Nó liên quan đến quy hoạch công nghiệp, đầu tư công nghệ, hoạt động của doanh nghiệp, khả năng cung ứng điện và cả yêu cầu giảm phát thải.

Với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, vấn đề càng trở nên rõ ràng khi các thị trường và nhãn hàng quốc tế ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon, nguồn năng lượng và hiệu quả sử dụng tài nguyên trong chuỗi cung ứng. Khi đó, một khoản chi cho điện năng không chỉ được nhìn trên hóa đơn cuối tháng mà còn có thể trở thành một phần trong bài toán quản trị chi phí và môi trường của doanh nghiệp.

Giá trị nằm ở phần điện được sử dụng hiệu quả

Quay trở lại với một hóa đơn điện của Công ty cổ phần Tổng công ty may Bắc Giang LNG, 168.847 kWh điện được ghi nhận trong 10 ngày và hơn 421 triệu đồng phải thanh toán là những con số cụ thể của một kỳ sử dụng điện.

Đằng sau những con số ấy là hàng nghìn giờ máy, dây chuyền sản xuất, đơn hàng và người lao động. Vì thế, câu chuyện tiết kiệm năng lượng trong nhà máy không đơn thuần là cắt giảm một khoản chi phí. Điều đáng nói hơn là doanh nghiệp có thể kiểm soát khoản chi ấy đến đâu và biến năng lượng thành giá trị sản xuất như thế nào.

Chính sách của Bắc Ninh đang tạo ra một khung mục tiêu khá rõ cho giai đoạn 2026-2030, từ tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải đến phát triển điện mặt trời mái nhà và quản lý năng lượng.

Thực tế của từng nhà máy, bài toán tiết kiệm năng lượng đòi hỏi doanh nghiệp phải đo đúng mức tiêu thụ, tính đúng hiệu quả của từng giải pháp và quan trọng hơn là lựa chọn được những hạng mục đầu tư thực sự phù hợp với nhu cầu vận hành của dây chuyền sản xuất.

Khi một doanh nghiệp bắt đầu theo dõi điện năng không chỉ bằng số tiền cuối tháng mà bằng từng khung giờ, từng dây chuyền và từng đơn vị sản phẩm, thì tiết kiệm năng lượng không còn là một phong trào. Nó trở thành một phần của cách tổ chức sản xuất. Và khi ấy, giá trị của mỗi kilowatt giờ được tính không chỉ bằng giá mua điện, mà bằng những gì nhà máy tạo ra từ lượng điện đã sử dụng.

 

Phương Thúy