Tuổi đôi mươi Hoàng Cầm với hai vở kịch thơ lịch sử (Hậu Nam Quan - Kiều Loan)

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh năm 1922, 18 tuổi đỗ tú tài toàn phần và 20 tuổi (năm 1942) viết liền hai vở kịch thơ lịch sử: Hận Nam Quan – Kiều Loan. Người đọc kịch bản văn học ngày nay thán phục một tâm h

Lịch sử dân tộc có lúc trầm lắng, u ám, vắng những tráng sĩ vác thanh gươm nghìn cân ra trận; có lúc thanh bình như điệu cò lả rập rờn trên thảm lúa thì con gái; có lúc hào hùng, gấp gáp, dữ dội “sắt chạm sắt loé sáng” (thơ Sóng Hồng) sang sảng “Tiến quân ca”.

Chúng ta còn nhớ năm 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương “để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh… thực tế là dân ta một cổ hai tròng… (Hồ Chí Minh – Tuyên ngôn Độc lập). Trong hoàn cảnh ấy, rất cần những ngọn lửa yêu nước bùng cháy ở các loại hình văn nghệ.

Hậu Nam Quan được sáng tác cấp thời đáp ứng nguyện vọng bức xúc của công chúng. Vở kịch chỉ một hồi ba cảnh. Hoàng Cầm viết cảnh Một lúc còn đang học năm thứ ba Trường Thành Chung – Bắc Ninh (1936-1937) diễn lần đầu năm 1939 ở Bắc Giang. Cảnh Hai và Ba viết năm 1944. Toàn vở diễn nhiều lần ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và nhiều làng thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình… những năm 1944-1948. Diễn cả ba màn ở Nhà hát Lớn Hà Nội đầu năm 1946.

Tuy còn giản lược nhưng Hậu Nam Quân đã gây được tiếng vang, nhất là trong tầng lớp thanh, thiếu niên và trí thức. Vở kịch có tứ, có chất thơ. Đó là cảnh sinh ly tử biệt đầy kịch tính của hai nhân vật lịch sử: Phi Khanh – Nguyễn Trãi, “Con yêu quý! Chớ xuôi lòng mềm yếu! Gác tình riêng vỗ cánh trở về Nam! Con về đi! Tận trung là tận hiếu! Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang” (Phi Khanh).

“Một ngày mai, con tung gươm cất cánh/Trời quê hương rực lửa những đêm thiêng/Cha phù hộ cho con tròn xứ mệnh/Quyết thành công lệnh đó, lệnh Hoàng Thiên” (Nguyễn Trãi).

Nếu Hậu Nam Quan tô đậm chủ đề yêu nước, tư tưởng cứu nước, gác tình nhà đền nợ nước, thì Kiều Loan lại đặt vấn đề nhân cách của các hành động và xung đột kịch. Kiều Loan kể về một cô gái đức hạnh, tài sắc vẹn toàn, mỏi mắt ngóng trông chồng mười năm chinh chiến, một đi không trở lại. Nàng lúc phát điên, đi tìm và oán hận kẻ tham vàng, bỏ ngãi. Đây là vở kịch hoành tráng, lấy bối cảnh lịch sử giai đoạn cuối TK 18 - đầu TK 19. Đại anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ mất đột ngột. Quang Toản bất tài. Nguyễn ánh dựa vào thế lực đại địa chủ Đàng Trong và tư bản nước ngoài, phản công, cướp được ngôi nhà Tây Sơn. Bằng hai tuyến nhân vật chính diện (Kiều Loan, Thầy Đô, Quan Hiệu úy) và phản phái (Tướng quân Vũ Văn Giỏi: chồng Kiều Loan, Hình Thị Lang) vở kịch lên án chế độ tàn bạo, phi nhân, trả thù một cách hèn hạ của Nguyễn ánh đối với nghĩa quân Tây Sơn; vạch mặt chỉ tên những kẻ phản dân hại nước, bội nghĩa vợ, vong ân thầy, bàn tay vấy máu dân lành. “Bắt người trói cả một dây/Ngày mai vùi lấp mười thây một mồ” (tiếng hát của bọn lính), “Biết bao cơn gió độc của nhà vua/Nồng xương máu, thổi bên đường xào xạc” (lời thư sinh A); bạo hành và quỷ quyệt: “Chí lớn từ xưa chôn chật đất/Riêng đàn đom đóm lại thênh thang” (lời Kiều Loan).

Kịch thoại đầy chất thơ, khi bi thiết đau đớn; khi mỉa mai khinh thị, khơi dậy trong lòng người đọc, người xem hướng tới cái thiện, cái đẹp, cái cao cả.

Nhà thơ Hoàng Cầm tự bạch: “Cách đặt vấn đề của tôi là việc triều Tây Sơn suy tàn là tất nhiên, bởi Quang Trung cũng chỉ là một người, nhưng qua đó tôi khắc hoạ nghĩa khí của những người con trung thành, họ có thể là một nhà nho, cũng có thể là một phụ nữ hay một đứa trẻ. Sự trung thành đó chính là khí phách của toàn dân tộc suốt 4000 năm. Triều đình nhà Nguyễn lập nên là tất yếu nhưng việc trả thù một cách hèn hạ với những con người nghĩa khí, đó là một vết nhơ trong lịch sử, là một nỗi đau mà không văn chương nào, không nước mắt nào có thể khỏa lấp được. Tôi giải quyết vấn đề qua số phận Kiều Loan, một con người hư hư, thực thực, sống trong một giai đoạn lịch sử chưa rành mạch, chồng chéo giữa hai dòng nước ngược chiều, vật lộn giữa tình riêng và nghĩa chung, đấu tranh giữa thật và giả, như thế ta vẫn gặp nàng ở bất kỳ một thời điểm nào, trong mọi nỗi đau của từng giai đoạn lịch sử, trong hoàn cảnh nước mất nhà tan (Báo Văn nghệ trang 35, 36, Chủ nhật 28/8/2005, trang 25).

Kịch thơ Kiều Loan của Hoàng Cầm đã được công diễn trở lại sau 60 năm do Nhà hát Tuổi Trẻ dàn dựng tại sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội vào đêm 19/8/2005 để chào mừng Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, cũng vừa 60 năm, tròn một Hội Giáp Hoa.

Tác giả không ngăn được những dòng lệ của niềm hạnh phúc: “Tôi đã sống lại những ngày xanh, về lại năm tôi 18 tuổi”.
  • Tags: