Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá: Phát huy cơ chế tự chủ ở doanh nghiệp khoa học công nghệ

Là doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) thuộc Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá ngày càng phát huy được nhiều thế mạnh

Hiệu quả từ cơ chế mới

Năm 2006, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá được chuyển sang hoạt động theo loại hình Công ty TNHH Một thành viên, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (QĐ số 206/2006/ QĐ-TTg ngày 5/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ). Theo đó, Viện được tự chủ về 5 nội dung: Nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất, kinh doanh; tổ chức; tài chính; nhân lực khoa học và công nghệ; hợp tác quốc tế. Từ khi thực hiện cơ chế mới đến nay, Viện đã hoàn thành tốt 2 chức năng là: Nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh.

Nhiều kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao, áp dụng trong thực tế sản xuất, đặc biệt là các kết quả về giống mới thuốc lá. Viện đã có 6 giống thuốc lá mới được công nhận và trồng đại trà với tổng diện tích đạt trên 10.000 ha/năm. Một số tiến bộ kỹ thuật mới đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu như kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá sạch bệnh, khỏe mạnh bằng phương pháp khay lỗ. Tiến bộ này đã được trồng nhiều tại các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và Thái Nguyên. Hàng năm, hàng ngàn lò sấy thuốc lá của nông dân được cải tạo theo phương pháp mới của Viện nhằm tiết kiệm nhiên liệu sấy.

Trong những năm qua, một số chỉ tiêu chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Viện đều đạt hiệu quả cao: Doanh thu tăng 3,5 lần, từ 85 tỷ đồng năm 2007 lên 291 tỷ đồng năm 2014 với mức tăng trưởng bình quân 19%/năm; lợi nhuận trước thuế tăng 11,8 lần, từ 301 triệu đồng năm 2007 lên 3,6 tỷ đồng năm 2014, với mức tăng trưởng bình quân là 42%/năm; thu nhập của người lao động tăng 2,7 lần, từ 2,9 triệu đồng năm 2007 lên 7,8 triệu đồng năm 2014 với mức tăng bình quân 16%/năm; vốn chủ sở hữu tại Viện tăng từ 32 tỷ đồng năm 2007 lên 34 tỷ đồng năm 2014, tăng bình quân 0,7%/năm.

Về nhân sự, Viện có 01 cán bộ bảo vệ thành công luận án tiến sỹ, 10 cán bộ được đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Thuốc lá, 01 cán bộ được đào tạo chuyên ngành kinh tế, 02 cán bộ được đào tạo chương trình giám đốc điều hành chuyên nghiệp, 19 cán bộ quản lý trung cấp được đào tạo về nghiệp vụ quản lý.

Hàng năm, Viện đã thực hiện phân tích từ 4.000-5.000 phép thử phục vụ cho các đề tài nghiên cứu, các mẫu giám định thuốc lá, sản xuất, cung cấp cho các đơn vị sản xuất thuốc lá nguyên liệu trên 200 kg hạt giống thuốc các loại, gồm: C9-1, C7-1, VTL5H, VTL81, GL2, K326, C176… sản xuất và cung cấp sản lượng thuốc lá nguyên liệu cho các công ty sản xuất thuốc lá điếu từ 2.000-4.000 tấn/năm, cung cấp khoảng 1.000 tấn phân bón hỗn hợp đặc chủng, khoảng 10 tấn hương liệu.

Với những kết quả đạt được cho thấy, việc tự chủ đã tạo nhiều thuận lợi cho Viện gắn kết quả nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Trong đó, nhiều đề tài nghiên cứu đã được triển khai và ứng dụng nhanh vào sản xuất, tạo vùng nguyên liệu thuốc lá chất lượng cao, có uy tín ở trong và ngoài nước. Cùng với việc hoàn thành trước thời hạn mục tiêu về doanh thu trên 100 tỷ đồng/năm từ hoạt động nghiên cứu, dịch vụ KHCN và sản xuất kinh doanh, Viện đã được Bộ Công Thương đánh giá là 1 trong 3 đơn vị KHCN đạt hiệu quả thuộc Bộ khi chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp KHCN.

Để phát huy tối đa hiệu quả từ cơ chế

Cơ chế tự chủ đã thực sự đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của các doanh nghiệp KHCN, đặc biệt rất phù hợp với những đơn vị thực sự năng động và có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đình Trường - Viện trưởng Viện Kinh tế kỹ thuật Thuốc lá, để các đơn vị KHCN phát huy tối đa hiệu quả thì các cơ quan chức năng cần sớm giải quyết một số bất cập mà các doanh nghiệp KHCN đang gặp phải như: Các văn bản về mô hình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp KHCN ban hành còn chậm, không thống nhất; Cần có hướng dẫn xếp hạng doanh nghiệp, như theo Thông tư 31/2008/TT-BLĐTBXH ngày 22/12/2008 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, và tại Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ thì Viện được tạm xếp hạng 1; Trong tổng số 32 tỷ đồng tiền vốn thì hơn 50% vốn thuộc tài sản cố định, không trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng nhưng vẫn phải tính khấu hao tài sản cố định, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thấp, nên không phản ánh được hết hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu; Cần xem xét lại việc xác định giá trị kết quả KHCN cho hợp lý, bởi vấn đề này đang ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các đơn vị. Ví dụ: Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội chưa thể cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KHCN cho Viện được vì đang gặp khó khăn trong việc xác định quyền sử dụng hoặc sở hữu kết quả KHCN, bởi các kết quả nghiên cứu của Viện đều là kết quả của các đề tài trong nhiều năm thuộc cấp Nhà nước, cấp Bộ và Tổng công ty. Ngoài ra, một số kết quả nghiên cứu khoa học của Viện thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thời gian nghiên cứu dài (nếu được công nhận là giống mới thường phải mất ít nhất 7 năm/ giống) và kinh phí tạo ra kết quả KHCN là rất lớn. Nếu được giao quyền sử dụng kết quả nghiên cứu đó thì số tiền nộp lại ngân sách không hề nhỏ, điều đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cũng như đến kết quả hoạt động chung của đơn vị.