Việt Nam tích cực triển khai Thỏa thuận Paris về năng lượng

Trong báo cáo INDCs tại Hội nghị COP21, Việt Nam cam kết giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính bằng nguồn lực quốc gia và 25% nếu có sự hỗ trợ quốc tế. Để hoàn thành mục tiêu này, Việt Nam đã, đang và
p.p1 {margin: 0.0px 0.0px 0.0px 0.0px; text-align: justify; font: 12.0px 'Helvetica Neue'; color: #454545} p.p2 {margin: 0.0px 0.0px 0.0px 0.0px; text-align: justify; font: 12.0px 'Helvetica Neue'; color: #454545; min-height: 14.0px}

Tại Hội nghị Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 21 (COP21) vào năm 2015 diễn ra tại Paris (Pháp), 195 bên tham gia đã cùng nhau đạt được thỏa thuận quan trọng về ứng phó với biến đổi khí hậu (Thỏa thuận Paris). Thỏa thuận này được nhận định đã đánh dấu một giai đoạn mới, với cách thức mới về hợp tác và chung tay ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu trong những thập kỷ tới.

Hội nghị COP21 đánh dấu thời khắc lịch sử khi thông qua Thỏa thuận Paris giữa 195 bên sau 20 năm thương lượng về ứng phó với biến đổi khí hậu

Trước thềm Hội nghị, Việt Nam cùng 119 quốc gia khác đã gửi Ban thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc tế về biến đổi khí hậu (UNFCCC) Dự kiến đóng góp quốc gia tự quyết định (INDCs) và nay là đóng góp quốc gia tự quyết định (NDCs) - một trong những nội dung quan trọng của Thỏa thuận Paris được chính thức ký kết ngày 22/4/2016.

Theo báo cáo INDCs, Việt Nam cam kết giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường bằng nguồn lực của quốc gia và tăng lên 25% nếu có sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Cũng theo báo cáo này, giai đoạn 2021-2030, phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực năng lượng ngày càng tăng nhanh, chiếm tới trên 80% tổng phát thải quốc gia vào năm 2030.

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Phó Vụ trưởng Phụ trách Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững nhận định, lĩnh vực năng lượng và công nghiệp đã, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Theo nghiên cứu của Bộ Công Thương, dự báo đến năm 2035, tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng sẽ đạt gần 135 triệu tấn dầu quy đổi (MTOE) tăng gấp 2,5 lần so với năm 2015 là 54 MTOE.

Dự báo tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng của Việt Nam giai đoạn 2016-2035 theo 3 kịch bản (Theo Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam năm 2017 - Bộ Công Thương)

Trong đó, mức tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải, chiếm tỷ trọng khoảng 27% được dự báo sẽ tăng nhanh nhất với tốc độ khoảng 5,7%/năm; lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng 45,3% có tốc độ tăng khoảng 5,0%/năm trong giai đoạn 2016-2035.

Dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng của Việt Nam giai đoạn 2016-2035 theo các ngành kinh tế (Theo Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam năm 2017 - Bộ Công Thương)

Nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế và an ninh năng lượng cũng như tham gia tích cực vào các nỗ lực chung thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, Bộ Công Thương hiện nay đang trong quá trình nghiên cứu phương pháp luận và cách tiếp cận trong việc xây dựng kịch bản phát thải thông thường (BAU) và các kịch bản giảm nhẹ cho các ngành sản xuất và tiêu dùng năng lượng tại Việt Nam. Đồng thời, đưa ra phương pháp xác định mục tiêu giảm phát thải định lượng cho các phân ngành và phương án giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA).

Hội thảo Phương pháp luận xây dựng Kế hoạch thực hiện Báo cáo Đóng góp quốc gia tự xác định trong lĩnh vực năng lượng

Phát biểu tại Hội thảo Phương pháp luận xây dựng Kế hoạch thực hiện Báo cáo NDCs trong lĩnh vực năng lượng tổ chức sáng 15/5/2018, ông Hoàng Văn Tâm - Phó Chánh Văn phòng Biến hậu khí hậu và Tăng trưởng xanh (Bộ Công Thương) cho biết, Việt Nam hiện nay đang triển khai rất nhiều các hoạt động như quản lý hoạt động tiết kiệm năng lượng của các doanh nghiệp tiêu thụ năng lượng trọng điểm, hay quy định mức tiêu hao năng lượng và hiệu suất năng lượng tối thiểu ở một số ngành như thép, hóa chất, nhựa, giấy, bia - nước giải khát,… và Chương trình dán nhãn năng lượng. Bộ Công Thương cũng đang xây dựng và đề xuất Chương trình quốc gia về tiết kiệm năng lượng đến 2025, tầm nhìn 2030.

Trong Chương trình dán nhãn năng lượng của Bộ Công Thương, hơn 10.000 mẫu sản phẩm thuộc 15 nhóm sản phẩm mục tiêu đã dán nhãn năng lượng.

Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu cho các phương tiện, thiết bị sản xuất nội địa và nhập khẩu được chỉ định kiểm soát tại các phòng thử nghiệm hiệu suất năng lượng trong nước và nước ngoài.

Nhờ đó, số lượng bóng đèn sợi đốt tiêu thụ hàng năm giảm mạnh từ khoảng 50-55 triệu bóng đèn năm 2011 xuống chỉ còn dưới 5 triệu bóng đèn trong năm 2015.

Bên cạnh xây dựng và đề xuất các dự án NAMA cho các ngành công nghiệp và năng lượng, Bộ Công Thương cũng đang đẩy mạnh triển khai các dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Đặc biệt, thí điểm các cơ chế mới về tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính như hỗ trợ vốn vay, bảo lãnh tín dụng các dự án tiết kiệm năng lượng, mua bán chứng chỉ carbon,…

Các hoạt động nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp, phát triển công nghiệp theo hướng carbon thấp và thúc đẩy thị trường ESCO cũng được đẩy mạnh trong khuôn khổ hợp tác quốc tế.

Tuy nhiên, ông Hoàng Văn Tâm cho biết, Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện NDCs.

Đầu tiên phải kể đến việc hướng dẫn, quy định thực hiện Thỏa thuận Paris và NDCs vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Kinh nghiệm và năng lực kỹ thuật và tài chính triển khai các hành động giảm nhẹ gắn với công tác đo đạc, báo cáo và kiểm chứng (MRV) còn hạn chế.

Ông thẳng thắn nhìn nhận, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu tại Việt Nam vẫn chưa đồng đều, đặc biệt là ở khối doanh nghiệp, trong khi các quy định của pháp luật về giảm nhẹ lại chưa cụ thể.

Được biết, trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ hoàn chỉnh phương pháp luận xây dựng đường cơ sở, kịch bản phát thải thông thường BAU các các kịch bản giảm nhẹ lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, đồng thời thiết lập và vận hành hệ thống MRV. Các cơ chế mới liên quan đến giảm nhẹ thông qua các hoạt động tiết kiệm năng lượng như bảo lãnh, trả thưởng, ETS,… cũng sẽ được nghiên cứu và đưa vào thí điểm sớm.

Bộ Công Thương hy vọng, trong thời gian tới, các Bộ ngành và các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế và quan trọng hơn cả là cộng đồng doanh nghiệp sẽ chung tay giải quyết các vướng mắc về cả cơ chế chính sách, nguồn lực tài chính, kỹ thuật và nhận thức xã hội để triển khai có hiệu quả các Chiến lược, quy hoạch, Chương trình quốc gia trong lĩnh vực năng lượng, hướng tới mục tiêu NDCs và tăng trưởng xanh cho Việt Nam.

Thy Thảo