Việt Nam trên bước đường thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ

Trong lúc cả hành tinh đang phải đấu tranh để có thể cung cấp đủ lương thực cho 7 tỷ người, thì theo ước tính của FAO, mỗi năm thế giới lãng phí đến 1,3 tỷ tấn lương thực, tương đương 1/3 sản lượng to

Mười ba năm trước, 189 nhà lãnh đạo trên thế giới họp tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York để ký Tuyên bố Thiên niên kỷ - bước khởi đầu cho việc thiết lập 8 mục tiêu thiên niên kỷ đầy tham vọng. Theo đó, tới năm 2015 sẽ giảm 1/2 số người bị thiếu ăn trên toàn cầu. Kể từ ngày 05/4/2013, còn đúng 1.000 ngày nữa là đến thời hạn cuối cùng để các nước hoàn thành các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Theo Liên Hợp Quốc (LHQ) tại Việt Nam, chúng ta đang đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng toàn cầu về thực hiện các mục tiêu này.

Ảnh minh họa. Nguồn: InternetAn ninh lương thực toàn cầu đang bị đe dọa

Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO) cho biết, 25% diện tích đất trên thế giới đang “thoái hóa nghiêm trọng” với nhiều biểu hiện như xói mòn, thiếu nước và suy giảm mức độ đa dạng sinh học. Diện tích đất được cải thiện chất lượng chỉ chiếm 10%. FAO nhận định, tới năm 2050 lượng lương thực phải tăng thêm 70% so với mức hiện nay để đáp ứng nhu cầu của dân số (được dự đoán sẽ tăng lên 9 tỷ người).

Báo cáo Phát triển con người năm 2013 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã nhấn mạnh, nghèo đói vẫn là vấn đề nan giải tại phần lớn các nước đang phát triển. Ước tính 1,57 tỷ người, tương đương hơn 30% dân số của 104 nước tham gia nghiên cứu đang sống trong cái gọi là “nghèo đa chiều”. Báo cáo cũng cảnh báo, nếu các nước không có sự phối hợp để ngăn chặn các thảm họa về môi trường, số người sống dưới chuẩn nghèo trên thế giới có thể tăng lên đến 3 tỷ người vào năm 2050.

Một thực tế đang diễn ra là thế giới ngày càng sản xuất ít lương thực hơn trong khi dân số lại không ngừng gia tăng. Biến đổi khí hậu sẽ thu hẹp đáng kể diện tích đất nông nghiệp và giảm năng suất cây trồng, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, nhất là việc mất các nguồn gien cây lương thực hoang dã đe dọa an ninh lương thực toàn cầu. Vì thế, các nước cần chung vai góp sức hướng tới mục tiêu xóa đói nghèo.

Cải thiện thu nhập ở Việt Nam

Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, nhưng phân hóa giàu nghèo trong xã hội cũng ngày càng gia tăng. Với quy mô GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái và 2.948 USD theo sức mua tương đương (PPP),Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của WB. Tuy nhiên, thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa so với nhiều quốc gia ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều.

Theo chuẩn nghèo mới, đến cuối năm 2012, tỷ lệ nghèo cả nước còn khoảng 10%, giảm so với năm 2011. Riêng các huyện nghèo, tỷ lệ nghèo bình quân khoảng 45%. Người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn (chiếm khoảng 90%). Một số huyện miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi duyên hải miền Trung, Tây Nam bộ là những nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao (trên 50%).

Hiện có gần 4,8 triệu hộ nghèo và cận nghèo, chiếm 22% số hộ cả nước. Đây là những hộ nghèo có mức thu nhập bình quân dưới 400.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn; và 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị căn cứ theo tiêu chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 (số liệu của Vụ Lao động - Văn hóa và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) .

Một vấn đề rất đáng lo ngại hiện nay là chúng ta đang “bê-tông” hoá đất có cấu tượng với tốc độ khá cao. Trong vòng 7 năm, từ 2001 - 2007, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp lên tới 500.000 ha, bằng 5% quỹ đất nông nghiệp. Xu hướng chuyển dịch diễn ra nhanh ở 2 vùng đồng bằng lớn liên quan đến sản xuất lương thực.

Khả năng khai thác, mở rộng diện tích để bù đắp vào diện tích đất lúa đã mất đi là rất hạn chế và khó khăn. Diện tích đất cho nông nghiệp quá chật hẹp. Cả nước có 12 triệu hộ gia đình, nhưng chỉ có 9,4 triệu ha đất nông nghiệp. Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7- 0,8ha, mỗi lao động 0,3ha và mỗi nhân khẩu 0,15ha. Ở đồng bằng Bắc bộ, con số này còn nhỏ hơn, chỉ 360m2/khẩu. Đáng lưu ý, khi mỗi ha đất nông nghiệp bị mất sẽ kéo theo 13 người rơi vào cảnh không có việc làm. Bên cạnh đó, chúng ta lại là một trong 10 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Theo dự báo, đến năm 2020, có khoảng 6 nghìn ha đất lúa bị ảnh hưởng, cuối thế kỷ thì sẽ có khoảng 70% diện tích đất lúa bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng. Kể cả khi không có hiện tượng biến đổi khí hậu hay mực nước biển, đến năm 2025, dân số Việt Nam cũng tăng thêm khoảng 60%; và giá trị thiệt hại do lũ lụt hàng năm có thể tăng gấp 10 lần, tương đương 5% GDP của Việt Nam.

Từ nay đến năm 2015, sản xuất đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng, nhưng dư thừa để xuất khẩu có thể không nhiều. Sau năm 2020 vấn đề tùy thuộc vào quỹ đất được duy trì đến mức độ nào và những tiến bộ về năng suất thay đổi ra sao. Bài học từ các quốc gia trong vùng rất đáng để suy nghĩ.

Con đường xóa đói, giảm nghèo

Việc thiếu hụt lao động kỹ năng sẽ tạo ra những rào cản cho tăng trưởng, vì vậy, trước hết phải tập trung cho đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngay từ thời kỳ đầu công nghiệp hóa. Ông Jonathan Pincus - Trưởng khoa kinh tế chương trình Fulbright, cho rằng “Muốn phát triển bền vững, các bạn phải nắm vững công nghệ sản xuất mới, nâng cao kỹ năng của người lao động để sử dụng công nghệ đó, tạo ra những sản phẩm tinh xảo và tung sản phẩm này xâm nhập vào các thị trường mới”. Tự tạo ra những “giá trị nội địa” chính là mấu chốt để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững và tạo ra sự khác biệt giữa các quốc gia thoát bẫy và kẹt bẫy.

Song song với việc làm trên, cần nhanh chóng tạo lập môi trường, cơ chế, chính sách khuyến khích cần thiết để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và giảm thấp chi phí kinh doanh. Xóa bỏ ưu đãi thuế quan, tạo ra sức ép cần thiết để các ngành công nghiệp sống trong môi trường cạnh tranh cũng được xem là “những việc cần làm ngay” .

Các chuyên gia nhận định, GDP tăng từ sản xuất nông nghiệp làm tăng thu nhập của người nghèo từ 2-4 lần so với GDP tăng từ các hoạt động phi nông nghiệp. Xu thế của một xã hội phát triển là phải giảm cơ cấu về mặt tương đối của nông nghiệp trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, phải có sự dịch chuyển lao động, theo hai cách: i) dịch chuyển tuyệt đối, tức là đưa về các khu công nghiệp, xuất khẩu lao động, đưa về thành phố - một quy luật không thể tránh khỏi đã, đang và sẽ diễn ra và ii) dịch chuyển tại chỗ, nghĩa là đưa công nghiệp về nông thôn, phát triển làng nghề - ly nông bất ly hương... một xu thế không thể đảo ngược.

Việc tổ chức tốt lưu thông hàng hóa nhằm tạo ra những tiền đề bên trong cho sản xuất và phân công lao động trong nông nghiệp theo hướng mở rộng các ngành nghề chế biến, dịch vụ bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đồng thời tạo ra các tiền đề bên ngoài (nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu) để đưa sản xuất hàng hoá ở nông thôn lên qui mô lớn, tiếp cận với thị trường thế giới là việc làm cấp bách. Chúng ta phải hình thành cho được một lớp doanh nhân kiểu mới chưa từng có trong lịch sử nước nhà - lớp doanh nhân nông nghiệp - loại hình doanh nghiệp mới cả về quy mô và chất lượng.

Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh công nghiệp và dịch vụ được tự do di chuyển đến các thị trấn, thị tứ, nơi gần đường giao thông để xây dựng cơ sở kinh doanh. Việc làm này vừa đáp ứng như cầu trước mắt, vừa tạo ra những điều kiện để sớm hình thành các tụ điểm công – thương nghiệp – dịch vụ ở nông thôn. Đây là quá trình “đô thị hoá” – “công nghiệp hoá - hiện đại hoá” nhưng “phi tập trung hoá”.