Việt Quang: Đầu tư lớn cho sản xuất sạch hơn

Với thâm niên trong ngành sản xuất, chế biến và xuất khẩu hải sản, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Việt Quang đã và đang xây dựng một thương hiệu nổi tiếng trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu các
Nhằm mở rộng hình thức kinh doanh và tận dụng tất cả nguyên liệu phế phẩm ngay tại nhà máy và trong khu vực, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn, Công ty tham gia chương trình sản xuất sạch hơn (SXSH), với những quyết định đầu tư lớn. 

Ngay sau khi khởi động chương trình, xem xét chi tiết toàn bộ dây chuyền công nghệ sản xuất, Công ty đã chọn dây chuyền sản xuất tôm thịt đông lạnh là trọng tâm đánh giá SXSH, vì đây là dây chuyền có nhiều công đoạn và sinh ra nhiều chất thải ô nhiễm nhất. Bên cạnh đó, Công ty vẫn quan tâm áp dụng SXSH tại các quá trình, các công đoạn sản xuất khác. Ngoài ra, để đảm bảo môi trường sản xuất trong lành và an toàn cho công nhân, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh khu dân cư, Công ty còn đề xuất một biện pháp xử lý cuối đường ống. 

Giai đoạn I, Công ty đã áp dụng 24 giải pháp đơn giản, chi phí thấp để giảm thiểu tác động môi trường như giảm tiếng ồn, giảm khí thải, nước thải, chất thải rắn... Bằng các biện pháp này, bước đầu Công ty đã cải thiện được vấn đề môi trường, giảm tiêu thụ điện năng 24.100 kWh/năm, tương đương giảm phát thải 17,4 tấn CO2/năm; giảm tiêu thụ nguyên vật liệu, hoá chất và nước sử dụng; cải thiện điều kiện làm việc của người lao động. Tuy nhiên, vấn đề bức xúc nhất của Công ty là hệ thống xử lý nước thải. Công nghệ hiện tại và hệ thống xử lý cũ đã không còn hiệu quả, quá tải do nhà máy tăng công suất chế biến, vừa tốn nước, vừa tạo nhiều nước thải nhưng vẫn ảnh hưởng đến khu dân cư xung quanh. Do vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất, tận dụng và tiết kiệm tối đa nguồn nguyên liệu, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động và giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất đến môi trường, Công ty đã xây dựng Dự án “Đầu tư thay đổi công nghệ áp dụng SXSH và cải thiện môi trường lao động trong sản xuất”. 

Thay đổi máy nén lạnh và hệ thống phụ trợ với môi chất lạnh R507
Hệ thống điện lạnh phục vụ sản xuất của Công ty đang hoạt động với máy móc thiết bị đã quá cũ, hiệu quả sử dụng năng lượng rất thấp. Môi chất lạnh sử dụng trong hệ thống là R22, là một trong những loại tác nhân chính gây nên hiện tượng thủng tầng ozon của khí quyển. Để giải quyết vấn đề này, cần sử dụng hệ thống thiết bị theo công nghệ mới, với máy nén trục vít thay thế máy nén piston đang sử dụng và thay đổi môi chất lạnh R22 bằng môi chất lạnh R507 là loại môi chất lạnh thân thiện môi trường. Công ty dự kiến đầu tư 1,5 tỷ đồng để thực hiện giải pháp này. Theo tính toán, mỗi năm, Công ty tiết kiệm được 237,8 triệu đồng; giảm tiêu thụ 87.750 kWh điện, tương đương giảm phát thải 63,2 tấn CO2, giảm phát thải 700 kg môi chất lạnh R22. 

Xây dựng lại hệ thống xử lý nước thải
Đây là giải pháp xử lý môi trường (xử lý cuối đường ống). Hiện trạng nước thải phát sinh từ các quá trình công nghệ của Công ty có lưu lượng trung bình 140 m3/ngày, có tải lượng BOD, COD, SS... rất cao; cụ thể BOD = 225 kg/ngày, COD = 330 kg/ngày, SS = 67,5 kg/ngày, pH = 5,5 - 9,5. Công ty đã có một hệ thống xử lý nước thải theo tiêu chuẩn của ngành chế biến thủy sản, nhưng được xây dựng từ năm 2005 với công suất xử lý nước thải theo thiết kế là 70 m3/ngày, phù hợp với công suất xưởng chế biến thời gian đó. 

Từ năm 2005 đến nay, Công ty đã nhiều lần đầu tư mở rộng và nâng công suất xưởng chế biến, nên lượng nước thải nhiều hơn và hệ thống này hiện nay chỉ xử lý được khoảng 50 - 60%. Để đảm bảo chất lượng nước thải sau khi qua hệ thống xử lý thải ra môi trường đạt tiêu chuẩn loại B theo luật định, Công ty đã quyết định xây dựng lại hệ thống xử lý nước thải. Công nghệ xử lý bao gồm, nước thải từ các phân xưởng sản xuất được thu về bể thu gom tách rác nhằm loại bỏ các chất rắn lơ lửng như giấy, gỗ, ni lông, các phần không sử dụng của cá và lắng cát, sau đó chảy vào bể điều hòa. Tại đây, nước thải được khuấy trộn bởi một hệ thống ống sục nước dưới đáy bể, sau đó được bơm với một lượng cố định vào bể phản ứng kỵ khí UASB. Tại bể UASB, các vi sinh vật ở dạng kỵ khí sẽ phân huỷ các chất hữu cơ có trong nước thải thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản và khí Biogas. 

Trong bể UASB có bộ phận tách 3 pha: Khí biogas - nước thải và bùn kỵ khí. Khí biogas được tách ra thu gom về bình lọc và thải ra môi trường. Bùn kỵ khí được tách ra và quay trở lại bể phản ứng. Nước thải được tách ra chảy về bể hiếu khí làm thoáng. 

Tại bể hiếu khí làm thoáng diễn ra quá trình sinh học hiếu khí được duy trì nhờ không khí cấp từ các máy thổi khí. Tại đây, các vi sinh vật ở dạng hiếu khí (bùn hoạt tính) sẽ phân huỷ các chất hữu cơ còn lại trong nước thải thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản. Nước thải được dẫn sang bể lắng 1, diễn ra quá trình phân tách giữa nước thải và bùn hoạt tính. Bùn hoạt tính lắng xuống đáy, nước thải ở phía trên chảy tràn qua bể lắng lần 2 và được lắng một lần nữa, đạt tiêu chuẩn TCVN 5945-2005, loại B, sau đó chảy xuống bể khử trùng bằng Clorin và xả ra môi trường. 

Bùn hoạt tính ở đáy bể lắng được thu gom về bể gom bùn và một phần lớn được bơm tuần hoàn về bể hiếu khí nhằm duy trì hàm lượng vi sinh vật trong bể, một phần bùn dư được định kỳ bơm xả đến bể phân huỷ. Nhờ quá trình phân huỷ kỵ khí, bùn thải giảm đáng kể về thể tích, một lượng bùn không thể phân huỷ, được định kỳ hút đem thải bỏ nơi quy định. Chi phí để đầu tư cho toàn hệ thống là 1,815 tỷ đồng. Đây là giải pháp xử lý môi trường thuần tuý và đảm bảo sự phát triển bền vững của Công ty, nước thải được xử lý triệt để các chất gây ô nhiễm môi trường, tránh phát thải 7600 kg SS/năm, 25.250kg BOD/năm, 37.250kg COD/năm, lợi ích kinh tế mang lại 21,79 triệu đồng/năm. 

Để thực hiện những giải pháp đầu tư lớn này, Công ty sử dụng vốn tự có, huy động liên kết vốn từ các thành phần kinh tế, vay Ngân hàng và nguồn vốn hỗ trợ từ Hợp phần SXSH trong công nghiệp. 

Với diện tích mặt bằng khu vực sản xuất hiện nay là 3.300 m2, đồng thời với dự án đầu tư thực hiện áp dụng SXSH này, Công ty dự kiến sẽ mở rộng thêm 1.700m2 để phục vụ sản xuất, các hoạt động của Công ty sẽ thuận lợi hơn và đảm bảo môi trường lao động cho công nhân trong giờ làm việc. Công ty cũng tiếp tục duy trì SXSH để đạt mục tiêu giảm 100% các rò rỉ (nước, môi chất lạnh, khí lạnh của các hầm và kho đông lạnh...) trong khâu trung gian của quá trình sản xuất; giảm 15% tiêu thụ nước, 5 - 8% tiêu thụ điện năng bằng các biện pháp giản đơn và 20% tiêu thụ điện với việc thay đổi công nghệ máy nén lạnh và nâng cấp hệ thống truyền tải điện nội bộ, tương đương giảm thiểu phát thải khí nhà kính CO2; đảm bảo nước thải ra môi trường đạt tiêu chuẩn, các chỉ số ô nhiễm nước và khí thải nằm trong giới hạn cho phép. 

Thực tế, việc đầu tư dây chuyền công nghệ tại các đơn vị sản xuất chế biến thủy sản còn hạn chế về mức độ tiên tiến, chủ yếu mang tính đối phó thậm chí gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng. Nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, chế biến thuỷ sản là sản phẩm đánh bắt và nuôi trồng từ nhiều địa phương. Quá trình sản xuất sinh ra rất nhiều chất thải, bao gồm nước thải, khí thải, bụi thải cần phải được khống chế. 

Việc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Việt Quang thực hiện SXSH trong giai đoạn I hiệu quả và thu được các kết quả rất tốt, đã có năng lực tự triển khai SXSH trong tương lai và xây dựng được một hệ thống quản lý môi trường tại doanh nghiệp là thành công không chỉ của riêng Việt Quang, mà còn là thành công lớn của chương trình SXSH. Hy vọng, với sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, sự giúp đỡ của các sở ban ngành, đặc biệt là sự hỗ trợ của Hợp phần CPI, Công ty sẽ triển khai thực hiện dự án đúng tiến độ và chất lượng.