VINACOMIN: Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm

Trong 2 năm 2010 - 2011, nhờ chung sức đồng lòng của tập thể CBCNV, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo các đơn vị, Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã thực hiện thành công
Công tác quản lý môi trường của Vinacomin đã được cấp ủy và cơ quan quản lí điều hành của Tập đoàn, Đảng bộ Than Quảng Ninh, các đơn vị trong Tập đoàn quan tâm thực hiện. Nhìn chung, nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường của lãnh đạo và người lao động các đơn vị trong Tập đoàn đã có sự chuyển biến rất rõ rệt và tích cực, thể hiện qua việc chủ động hơn bảo vệ môi trường của đơn vị thông qua các nghị quyết về bảo vệ môi trường của Đảng ủy Tập đoàn, Đảng ủy than Quảng Ninh; các chỉ thị, giải pháp về bảo vệ môi trường của Tổng Giám đốc Tập đoàn và các đơn vị, các kế hoạch bảo vệ môi trường thường xuyên và thực hiện các dự án bảo vệ môi trường.

Năm 2011, công tác quản lý sử dụng quỹ môi trường tập trung đã có nhiều chuyển biến tích cực, với tổng giá trị thực hiện là 679.547 triệu đồng/kế hoạch điều chỉnh 704.752 triệu đồng, đạt 96%, trong đó tổng giá trị đã giải ngân là 413.221 triệu đồng.

Ngoài ra, Vinacomin đã tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường để tiếp nhận những kỹ thuật, công nghệ xử lý bãi thải, nước thải, kiến thức quản lý môi trường, như: ký thỏa thuận thực hiện 03 dự án với Tổng công ty phục hồi môi trường mỏ Hàn Quốc (MIRECO) và thực hiện 01 dự án hợp tác với NEDO (Nhật Bản). Ngoài ra, Tập đoàn còn thực hiện chương trình hợp tác VINACOMIN- RAME về môi trường đã được Bộ Giáo dục và Nghiên cứu CHLB Đức chấp thuận kéo dài đến hết năm 2014 với 01 dự án mới được bổ sung là phục hồi môi trường mỏ và tái sử dụng đất sau khai thác mỏ, ứng dụng cho 03 mỏ khai thác lộ thiên vùng TP. Hạ Long (Hà Tu, Núi Béo, 917) sau khi đóng cửa từ năm 2015 đến năm 2018.

Trong thời gian qua, chất lượng môi trường vùng than Quảng Ninh đã được cải thiện rõ rệt. Sức ép của dư luận cộng đồng với môi trường vùng khai thác bauxite đã giảm. Các kỹ thuật và công nghệ môi trường được ứng dụng đã ngày càng tỏ ra hiệu quả hơn, sát với thực tế đặc tính, đặc thù các đối tượng cần được xử lý, phục hồi. Công tác quản lý môi trường ngày càng đi vào nề nếp, thể hiện đúng tầm vóc, quy mô sản xuất - kinh doanh của Tập đoàn. Lần đầu tiên Vinacomin đã giao nhiệm vụ cho cơ quan tư vấn trong ngành lập các đề án tổng thể, kế hoạch tổng thể mang tính quy hoạch để tổ chức quản lý môi trường trên quy mô vùng, dài hạn và đang chuẩn bị nghiệm thu để đưa công trình cơ sở dữ liệu môi trường trên quy mô toàn Tập đoàn vào hoạt động. 


Công tác kiểm tra thường xuyên và đột xuất của các ban chuyên ngành của Vinacomin và sự phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường - Bộ Công an, Cục kỹ thuật an toàn và môi trường công nghiệp - Bộ Công Thương, Sở Tài nguyên & Môi trường và Phòng Cảnh sát môi trường các tỉnh, thành phố) về công tác bảo vệ môi trường đối với các đơn vị sản xuất trong Tập đoàn đã được thực hiện có hiệu quả, tác động tích cực đến nhận thức và trách nhiệm của cơ sở sản xuất về bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, bên cạnh sự thực hiện nghiêm công tác bảo vệ môi trường chung trong toàn Tập đoàn, vẫn còn một số đơn vị chưa làm tốt trách nhiệm, dẫn tới bị xử phạt vi phạm pháp luật về môi trường. Trong năm 2010 có 01 đơn vị bị cảnh cáo và 07 đơn vị bị phạt với tổng số tiền là 329,5 triệu đồng; năm 2011 có 07 đơn vị bị phạt với tổng số tiền 460 triệu đồng. Các lỗi vi phạm thường là xả thải vượt quy định, vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại. Các lỗi này xảy ra do bộ phận quản lý môi trường các đơn vị thiếu kiểm tra hoặc chỉ dẫn chưa đầy đủ cho công nhân, người lao động.

Ông Bùi Văn Khích - Phó Tổng giám đốc Vinacomin cho biết, Tập đoàn yêu cầu các đơn vị trong thời gian tới tập trung thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về công tác BVMT, với nhiệm vụ tổng quát là tích cực quản lý ô nhiễm ngay từ đầu nguồn, trong đó tiếp tục thực hiện đầu tư các dự án trạm xử lý nước thải mỏ hầm lò và lộ thiên. Phấn đấu đến cuối năm 2012, nước thải mỏ hầm lò phải được xử lý qua trạm xử lý nước thải và năm 2013, tất cả nước thải từ các mỏ lộ thiên được xử lý qua trạm xử lý nước thải. Các đơn vị cần tiếp tục thực hiện các dự án: đường vận chuyển than chuyên dùng; cải tạo bãi thải; xử lý kim loại nặng các vùng khai thác khoáng sản; xây dựng khu lâm sinh và thử nghiệm đổ thải tại Đắk Nông và Lâm Đồng; trình duyệt báo cáo đầu tư dự án Nhà máy Xử lý chất thải nguy hại tại xã Dương Huy (Cẩm Phả) để có thể đưa vào hoạt động trong năm 2013. Đối với các bãi thải mỏ đang hoạt động, cần đổ thải theo đúng quy hoạch và công nghệ đổ thải đã được Tập đoàn duyệt; thường xuyên kiểm tra và có các giải pháp phòng ngừa khắc phục việc sạt lở đất đá xuống khu dân cư; đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường và một số nhiệm vụ khác...