“Ý tưởng xanh” cứu cánh làng nghề

Tính đến tháng 12/2010, làng nghề chế biến nông sản Dương Liễu (Hoài Đức – Hà Nội) có trên 2.600 hộ tham gia sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (CN&TTCN). Các sản phẩm truyền thống của Dương

Ô nhiễm từ chất thải

Trời về trưa chuyển sang nắng gay gắt, vừa bước chân vào đầu thôn Dương Liễu, chúng tôi đã bị một mùi thum thủm tựa phân lợn xộc lên sống mũi. Đường làng, ngõ xóm đâu đâu cũng là phên bạt phơi miến dong. Từng đống bã dong, củ sắn xếp hàng khắp con đường. Dẫn chúng tôi tham quan một vòng quanh nhà, chỉ tay vào hệ thống nước thải trước cửa, bác Nguyễn Phi Sinh lắc đầu: "Nó bị ứ đọng từ lâu rồi, cách đây vài tuần, mưa rào to suốt mấy ngày liền mà nó vẫn không trôi đi được". Quan sát, chúng tôi thấy lượng chất thải tồn đọng tại hệ thống nước thải ở đây quá lớn. Qua nhiều năm tích tụ, nó đã dày lên cả gang tay. Trời nắng, nước sủi bọt đen ngòm bốc mùi hết sức khó chịu. Cả làng quanh năm ngày tháng được “thưởng thức” miễn phí loại “nước hoa” đặc biệt này. Chỉ đứng có một lúc mà tôi như bị choáng, xây xẩm hết mặt mày.

Theo báo cáo thực trạng làng nghề của UBND xã Dương Liễu, toàn xã có 3.035 hộ, thì có đến 2.600 hộ tham gia sản xuất các sản phẩm nói trên. Một ngày, xã Dương Liễu xả thẳng ra môi trường 530 tấn rác thải, trong đó, chất thải từ các hộ sản xuất CN, TTCN chiếm tới 500 tấn. Điều đáng nói là, lượng rác thải này hoàn toàn không qua xử lí. Sau khi ép tinh bột, bã của dong riềng, sắn được các hộ dân xả thẳng ra rãnh thoát nước, ao hồ, bờ mương. Do kinh phí hạn hẹp, nên chính quyền cũng như người dân địa phương hoàn toàn “bó tay” trước thực trạng này. Rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu môi trường đã về làm việc, nhưng đều lắc đầu, bỏ cuộc với lý do: “Tình trạng ô nhiễm ở đây quá trầm trọng, chúng tôi không biết phải bắt đầu nghiên cứu từ đâu”. Vị nào tâm huyết với môi trường lắm cũng đến lần thứ hai là “biến mất”.

Hiện nay, toàn xã có hơn 30 công ty TNHH, cổ phần tham gia sản xuất kinh doanh và con số này đang không ngừng gia tăng. Bác Nguyễn Phi Sinh dẫn chúng tôi “tham quan” một vòng các cơ sở sản xuất nơi đây. “Đăng kí sản xuất CN, TTCN cho oai, thực chất đến 99% cơ sở sản xuất ở đây vẫn giữ lối làm việc thủ công. Từ khâu phân loại, ép sắn, dong riềng, đến cào chất thải đều do nhân công đảm nhiệm qua nhiều năm tích tụ, ao hồ chạy dọc theo cánh đồng đội 4 dường như đóng băng. Nếu đứng từ trên bờ nhìn xuống, không ai có thể ngờ nhiều năm trước đấy lại là hồ nước trong xanh. Rác thải đã trở nên đông cứng. Mọi người có thể vô tư đi lại trên mặt hồ. Thậm chí, mặt hồ còn trở thành sân bóng của lũ trẻ trong thôn mỗi buổi chiều hè” – bác Sinh kể.

  Những “Ý tưởng xanh”

Bác Nguyễn Phi Sinh sinh năm 1956, từng là lính xe tăng ngang dọc một thời. Năm 1975, bác lên đường nhập ngũ tham gia vào chiến trường B. Đến năm 1980 thì xuất ngũ trở về quê hương cùng gia đình tăng gia sản xuất. “Thời đó, cả làng không có nghề gì khác ngoài làm mạch nha, tôi và mọi người trong nhà cũng chỉ biết bám trụ với nó thôi”, bác Sinh chia sẻ. Cứ thế qua nhiều năm, cả xã đâu đâu cũng là xưởng sản xuất mạch nha.

Đến đầu năm 1996, làng nghề phát triển với nhiều ngành nghề mới, cũng là lúc bắt đầu bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bã dong riềng và nước thải chảy tràn ngập thôn xóm, thậm chí tràn cả ra ruộng lúa ngoài cánh đồng. Nước đặc quánh, đen ngòm, không loài thủy sinh nào có thể sống sót. Bác Sinh chợt nghĩ: “Tại sao trong khi các loài thủy sinh bị chết thì lúa lại phát triển tốt bất thường?”. Sau đợt đó, bác lặn lội lên tận thành phố mời các nhà khoa học về kiểm nghiệm. Có một sự thật đến ngỡ ngàng - trong lượng chất thải đen ngòm kia chứa rất nhiều các yếu tố vi lượng như đạm, lân, ka li (N-P-K).

Từ đây, một ý tưởng mà nhiều người cho là chẳng giống ai bắt đầu được bác Sinh tiến hành. Cả nhà có 5 người, bác Sinh đều huy động cầm xô, chậu, bao tải… đi khắp trong xóm vớt chất thải. Thu vớt được bao nhiêu, bác cho hết vào bao tải rồi dùng chân ép cho nước ra hết. “Ép càng khô thì càng tốt, giảm thiểu được độ ẩm thì công đoạn chế biến càng nhanh mà lại không bốc mùi”, bác Sinh cho biết. Ngày nào nhiều, bác thu được 2 - 3 tạ rác thải là chuyện bình thường. Chủ một cơ sở sản xuất ở đây cho biết, có ngày nhà anh xả ra 70 tấn bã dong riềng. Như vậy, lượng bã rác thải mà bác Sinh thu được chả thấm tháp vào đâu. Sau khi ép lấy bã, chất thải được trùm kín bạt và ủ cho hoại mục thì đem ra sản xuất phân bón hữu cơ. Vợ bác Sinh cho biết, thời gian ủ càng lâu thì chất lượng phân càng tốt. Đồng thời cũng giảm đi chi phí của các chất trộn cùng. Hiện tại, xưởng chế biến phân hữu cơ của gia đình bác Sinh luôn có chục nhân công làm việc. Ý tưởng của bác  đã tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ gia đình ở đây. Ưu điểm vượt trội của loại phân bón này là giá thành khá rẻ, mỗi kilogam chỉ hai nghìn đồng. Nhiều người tự nguyện đăng kí đi thu gom rác thải cùng gia đình bác với một lí do rất đơn giản là chung tay bảo vệ môi trường. Năm 2008, bác Sinh vinh dự được trao tặng bằng khen “Vì sự nghiệp bảo vệ môi trường Việt Nam”.

Mới đây, ý tưởng “sáng tạo than tổ ong từ bã giong riềng” của cậu con trai Nguyễn Phi Trường cũng đoạt giải ba trong cuộc thi “Ý tưởng xanh” do Tổng cục Môi trường tổ chức. Ngay sau cuộc thi, Công ty Toyota Việt Nam đã hỗ trợ 250 triệu đồng giúp Trường có thể mở rộng sản xuất, áp dụng vào thực tiễn. Ý tưởng làm than tổ ong từ bã dong riềng của Trường thật…trẻ con. Hồi còn học cấp 2, mùa đông giá rét, cậu cùng lũ bạn đem bã dong riềng đến lớp đốt để sưởi ấm. Trường nhận thấy, bã dong riềng cháy rất đượm, lại rất ít khói. Nhưng mãi đến đầu năm 2010, chàng trai trẻ mới bắt tay thực hiện ý tưởng. Công thức 50/50 (50% bã dong riềng + 50% than) tỏ ra khá hiệu quả. Viên than mới cháy lâu hơn, nhiệt lượng tỏa ra lớn hơn. Nhưng có một điều khá đặc biệt, đó là bã của loại than này có thể nghiền ra bón cho cây trồng rất tốt. Giá của một viên than này cũng rẻ hơn loại than tổ ong bình thường vài trăm đồng. “Trong thời gian tới, mình đang có ý định áp dụng công thức 70 + 30, mong rằng sẽ thành công như lần trước”, Trường bật mí.

Người dân thôn Dương Liễu đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi bác Sinh và cậu con trai Nguyễn Phi Trường có thể biến rác thải thành phân hữu cơ hay than tổ ong thân thiện với môi trường. Cả phân hữu cơ của bác Sinh lẫn than tổ ong mới của Trường đều được mọi người hào hứng dùng thử. Bước đầu, cả 2 sản phẩm đều cho kết quả khả quan. Tuy nhiên, băn khoăn lớn nhất của gia đình bác Sinh lúc này là nguồn vốn, có vốn mới mở rộng sản xuất, từ đó lượng rác thải sẽ được triệt tiêu. Bác Sinh mong muốn các cấp, các ngành có biện pháp quan tâm, giúp đỡ để bác có điều kiện nhân rộng mô hình này trong thời gian tới. Có như vậy bài toán khó về môi trường của xã Dương Liễu sẽ tìm được lời giải.