Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,1 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 4,9 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 5,1 tỷ USD tỷ USD.
Tháng 09/2016, Việt Nam đã xuất khẩu 396.000 tấn gạo với giá trị đạt 176 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 09 tháng đầu năm 2016 ước đạt 3,76 triệu tấn với trị giá 1,69 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng và giảm 12,5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá gạo xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2016 đạt 449 USD/tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2015.
Về các thị trường nhập khẩu gạo chính của Việt Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo với 35,5% thị phần, đạt 1,18 triệu tấn và 538 triệu USD, giảm 21,4% về khối lượng và giảm 12,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Đứng thứ hai là Ghana, chiếm 11% thị phần, đạt 343 nghìn tấn và 166,4 triệu USD, tăng 36,9% về khối lượng và 30,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Đáng chú ý có thị trường Indonesia, thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ 3 của Việt Nam với 9,4% thị phần, khối lượng gạo xuất khẩu sang Indonesia đạt 359.000 tấn với 142,5 triệu USD, tăng gấp 243 lần về khối lượng và gấp 25,4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2015; thị trường Angola tăng gấp 4,6 lần vê fkhối lượng và 3,6 lần về giá trị. Các thị trường có giá trị giảm mạnh là Philippines (67,4%), Malaysia (43,3%), Singapore (35,7%), Bờ Biển Ngà (25,3%) và Đài Loan (14,1%).
Về mặt hàng cà phê, trong tháng 09/2016, khối lượng cà phê xuất khẩu ước đạt 113.000 tấn với giá trị đạt 221 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 09 tháng đầu năm 2016 đạt 1,39 triệu tấn và 2,48 tỷ USD, tăng 38,9% về khối lượng và tăng 22,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm đạt 1.774 USD/tấn, giảm 13,3% so với cùng kỳ năm 2015. Đức và Mỹ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng qua với thị phần lần lượt là 15,3% và 13,3%.
Giá trị xuất khẩu cà phê trong 8 tháng đầu năm ở hầu hết các thị trường chính của Việt Nam đều tăng so với cùng kỳ năm 2015, ngoại trừ thị trường Tây Ban Nha và Bỉ có giá trị giảm lần lượt là 7,2% và 3,2% so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê tăng mạnh là Philippines (71,8%), Trung Quốc (53,6%), Algeria (51,3%), Mỹ (45,1%), Đức (32,9%), Nhật Bản (17,5%) và Italy (16,2%).
Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 09 năm 2016 đạt 496 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 09 tháng đầu năm 2016 đạt 4,9 tỷ USD, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc - 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2016 - chiếm 68,8% tổng giá trị xuất khẩu. Các thị trường có giá trị tăng mạnh là Hàn Quốc (18%), Anh (12,4%), Trung Quốc (11,3%) và Australia (9%).
Đối với mặt hàng thủy sản, trong tháng 09/2016, Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản sang các nước ước đạt 568 triệu USD, đưa giá trị xuấy khẩu thủy sản 09 tháng năm 2016 lên 4,93 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là những thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 8 tháng đầu năm, chiếm 53,7% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (55,2%), Mỹ (14,3%), Hà Lan (12,3%) và Thái Lan (10,8%).
