Tóm tắt:
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thương mại điện tử (TMĐT) đến mô hình kinh doanh truyền thống tại Hà Nội và xác định các nhân tố quyết định mức độ chuyển đổi. Mô hình tích hợp khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) mở rộng với nhân tố Quản lý, Lý thuyết Rủi ro cảm nhận và Lý thuyết dựa trên nguồn lực, gồm 30 biến quan sát. Dữ liệu khảo sát 503 cơ sở bán lẻ và dịch vụ có cửa hàng vật lý tại Hà Nội được phân tích bằng PLS-SEM trên SmartPLS. Cả 6 giả thuyết đều được ủng hộ: Quản lý tác động mạnh nhất đến mức độ ứng dụng TMĐT (β = 0,293), Rủi ro cảm nhận là rào cản lớn nhất (β = -0,276), Môi trường tác động thấp nhất (β = 0,128). Mức độ ứng dụng TMĐT tác động mạnh nhất đến chuyển đổi mô hình kinh doanh (β = 0,623), cho thấy TMĐT không thay thế mà tái cấu trúc mô hình truyền thống. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất thứ tự ưu tiên giải pháp cho doanh nghiệp và một số kiến nghị chính sách.
Từ khóa: thương mại điện tử, mô hình kinh doanh truyền thống, chuyển đổi số, PLS-SEM, Hà Nội.
1. Đặt vấn đề
Thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành một động lực quan trọng của kinh tế số Việt Nam. Theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM, 2025), quy mô TMĐT năm 2024 đạt 32 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng 27%, chiếm khoảng 12% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Sự phát triển này đặt khu vực kinh doanh truyền thống trước yêu cầu thích ứng cấp bách.
Hà Nội là địa bàn thể hiện rõ nhất áp lực nêu trên. Thành phố dẫn đầu cả nước về Chỉ số Thương mại điện tử năm 2025 với 74,7 điểm (VECOM, 2025) và Chỉ số Chuyển đổi số cấp tỉnh năm 2024 với 0,8241 điểm (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025), đồng thời vẫn duy trì mật độ cơ sở kinh doanh truyền thống thuộc nhóm cao nhất cả nước với hệ thống chợ và tuyến phố chuyên doanh lâu đời. Năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Thành phố đạt 853,3 nghìn tỷ đồng, trong đó bán lẻ hàng hóa chiếm 63,2% (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2025). Đây là địa bàn mà sức ép số hóa và mật độ kinh doanh truyền thống cùng ở mức cao nhất cả nước.
Các nghiên cứu trước về TMĐT tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận từ góc độ hành vi người tiêu dùng hoặc tập trung vào địa bàn khác như Thành phố Hồ Chí Minh (Phạm Duy Hiếu, 2025) và Đà Nẵng (Võ Tiến Sĩ, 2024). Một số công trình đánh giá tác động của TMĐT đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Phạm Quang Huy, 2023) nhưng chưa làm rõ cơ chế dẫn tới thay đổi mô hình kinh doanh. Khoảng trống nghiên cứu vì vậy nằm ở 3 điểm: thiếu nghiên cứu hệ thống về Hà Nội; thiếu mô hình định lượng lấy đơn vị kinh doanh truyền thống làm trung tâm phân tích; và chưa làm rõ vai trò trung gian của mức độ ứng dụng TMĐT.
Nghiên cứu hướng tới 3 mục tiêu: xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng TMĐT của cơ sở kinh doanh truyền thống tại Hà Nội; lượng hóa quan hệ giữa mức độ ứng dụng TMĐT và mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh; đề xuất giải pháp có thứ tự ưu tiên dựa trên bằng chứng định lượng. Về lý luận, nghiên cứu tích hợp khung TOE mở rộng với Lý thuyết Rủi ro cảm nhận và Lý thuyết dựa trên nguồn lực, trong đó mức độ ứng dụng TMĐT giữ vai trò biến trung gian. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực chứng từ 503 cơ sở và chỉ ra thứ tự ưu tiên can thiệp, giúp chính sách hỗ trợ tránh dàn trải.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Khái niệm mô hình kinh doanh truyền thống
Osterwalder và Pigneur (2010) định nghĩa mô hình kinh doanh là logic về cách thức một tổ chức tạo ra, phân phối và thu giữ giá trị. Tuy nhiên, khảo cứu tài liệu cho thấy chưa tồn tại một định nghĩa độc lập và thống nhất về mô hình kinh doanh truyền thống. Trên cơ sở 3 thuộc tính đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước, gồm sự hiện diện của không gian vật lý (Verhoef và cộng sự, 2015), phương thức tương tác trực tiếp và tính hữu hình của quy trình kinh doanh (Laudon & Traver, 2021), nghiên cứu xác định mô hình kinh doanh truyền thống là phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh, trong đó các quá trình tạo ra, phân phối và thu giữ giá trị chủ yếu dựa trên hệ thống điểm bán vật lý, với mức độ số hóa chưa giữ vai trò trung tâm trong quản trị giao dịch.
2.1.2. Khung lý thuyết tích hợp
Nghiên cứu sử dụng khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) của Tornatzky và Fleischer (1990) làm nền tảng, do khung này đã được kiểm chứng rộng rãi trong các nghiên cứu về chấp nhận TMĐT tại doanh nghiệp (Iacovou và cộng sự, 1995; Zhu & Kraemer, 2005; Ramdani và cộng sự, 2013). Tuy nhiên, tại các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh Việt Nam, quyết định đầu tư công nghệ chủ yếu do chủ cơ sở trực tiếp đưa ra. Vì vậy, nghiên cứu kế thừa mô hình mở rộng của Van Huy và cộng sự (2012), bổ sung nhân tố Quản lý nhằm phản ánh vai trò của kiến thức, thái độ đổi mới và mức độ chấp nhận rủi ro của nhà quản trị. Cách tiếp cận này phù hợp với Lý thuyết Upper Echelons, theo đó đặc điểm nhận thức của lãnh đạo định hình trực tiếp hành vi chiến lược của tổ chức (Hambrick & Mason, 1984).
Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Rủi ro cảm nhận (Bauer, 1960) để giải thích các rào cản tâm lý trong quá trình ứng dụng TMĐT, Mô hình Chấp nhận Công nghệ (Davis, 1989) để phản ánh nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng của công nghệ, và Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Barney, 1991) để lý giải vai trò của TMĐT như một nguồn lực chiến lược. Theo quan điểm của Barney (1991), công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi được doanh nghiệp tiếp nhận và khai thác thực chất. Đây là căn cứ lý thuyết để nghiên cứu xác lập mức độ ứng dụng TMĐT là biến trung gian, thay vì để năm nhân tố tác động trực tiếp đến kết quả chuyển đổi mô hình kinh doanh.
2.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở khung lý thuyết tích hợp, nghiên cứu đề xuất sáu giả thuyết. H1: Nhân tố Công nghệ có tác động tích cực đến mức độ ứng dụng TMĐT. H2: Nhân tố Tổ chức có tác động tích cực đến mức độ ứng dụng TMĐT. H3: Nhân tố Môi trường có tác động tích cực đến mức độ ứng dụng TMĐT. H4: Nhân tố Quản lý có tác động tích cực đến mức độ ứng dụng TMĐT. H5: Nhân tố Rủi ro cảm nhận có tác động tiêu cực đến mức độ ứng dụng TMĐT. H6: Mức độ ứng dụng TMĐT có tác động tích cực đến mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống. Mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày tại Hình 1.

2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc với thang đo Likert 5 mức độ. Đối tượng khảo sát là chủ hộ kinh doanh cá thể, chủ doanh nghiệp hoặc cán bộ quản lý tại các cơ sở bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khảo sát được thực hiện trực tuyến theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát trực tuyến trong khoảng thời gian từ ngày 13/07/2026 đến ngày 17/07/2026, theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
Mô hình gồm 7 khái niệm được đo lường bằng 30 biến quan sát: Công nghệ (TE, 4 biến), Tổ chức (OR, 4 biến), Môi trường (EN, 6 biến), Quản lý (MA, 4 biến), Rủi ro cảm nhận (PR, 3 biến), Mức độ ứng dụng TMĐT (AD, 5 biến) và Mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống (TB, 4 biến). Thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu thực nghiệm trước về chấp nhận TMĐT tại doanh nghiệp nhỏ và vừa (Iacovou và cộng sự, 1995; Van Huy và cộng sự, 2012; Zhu & Kraemer, 2005; Ramdani và cộng sự, 2013) và được hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh hộ kinh doanh tại Hà Nội.
Nhóm tác giả thu về 606 phiếu trả lời. Quá trình làm sạch dữ liệu loại 103 phiếu không đáp ứng tiêu chí chọn mẫu, bao gồm: không kinh doanh trên địa bàn Hà Nội; lĩnh vực kinh doanh chính không thuộc nhóm bán lẻ hoặc dịch vụ tiêu dùng; hoặc không có cửa hàng, mặt bằng kinh doanh vật lý. Tiêu chí thứ ba mang tính bắt buộc, do cơ sở không có điểm bán vật lý không thuộc đối tượng nghiên cứu theo khái niệm đã xác lập. Kết quả còn 503 phiếu hợp lệ, vượt yêu cầu tối thiểu về cỡ mẫu theo công thức N = 5 × m của Hair và cộng sự (2010).
Dữ liệu được sàng lọc, mã hóa và thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS. Việc kiểm định mô hình được thực hiện bằng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS. Nghiên cứu lựa chọn PLS-SEM thay vì hồi quy tuyến tính bội do mô hình có nhiều khái niệm tiềm ẩn, chứa một biến trung gian và dữ liệu khảo sát không bảo đảm giả định phân phối chuẩn đa biến. Quy trình phân tích tuân theo hai bước do Hair và cộng sự (2019) đề xuất: (1) đánh giá mô hình đo lường thông qua hệ số tải ngoài, độ tin cậy tổng hợp, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; (2) đánh giá mô hình cấu trúc thông qua hệ số phóng đại phương sai, hệ số xác định R², hệ số tác động f² và kiểm định giả thuyết bằng kỹ thuật Bootstrapping với 5.000 mẫu lặp ở mức ý nghĩa 5%.
3. Kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Kết quả thống kê mô tả cho thấy, mẫu nghiên cứu tập trung ở nhóm chủ cơ sở trẻ và quy mô kinh doanh nhỏ. Có 82,1% người được khảo sát dưới 35 tuổi, trong đó nhóm dưới 25 tuổi chiếm 45,5%. Về kinh nghiệm quản lý, 85,1% có dưới 5 năm kinh nghiệm điều hành. Về quy mô, 76,7% cơ sở có doanh thu bình quân dưới 5 tỷ đồng/năm. Đáng chú ý, 80,7% cơ sở mới ứng dụng TMĐT trong thời gian chưa đến 3 năm, trong khi chỉ 4,8% đã ứng dụng từ 5 năm trở lên (Bảng 1).
![]()
Về kênh bán hàng, bán trực tiếp tại cửa hàng vẫn là kênh phổ biến nhất với 413 trên tổng số 503 cơ sở, tiếp theo là Facebook (297 cơ sở), TikTok Shop (247 cơ sở), Shopee (246 cơ sở) và website bán hàng (193 cơ sở). Cơ cấu này cho thấy cửa hàng vật lý vẫn giữ vai trò trung tâm, đồng thời phần lớn cơ sở đã kết hợp thêm các kênh trực tuyến. Đặc điểm mẫu phản ánh đúng nhóm doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh truyền thống đang ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi số, phù hợp với đối tượng mà nghiên cứu hướng tới.
3.1.2. Đánh giá mô hình đo lường
Kết quả phân tích cho thấy, toàn bộ 30 biến quan sát đều có hệ số tải ngoài lớn hơn 0,7, dao động từ 0,738 đến 0,903, đáp ứng tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2019). Hệ số Cronbach's Alpha của bảy thang đo dao động từ 0,838 đến 0,909 và hệ số tin cậy tổng hợp (CR) dao động từ 0,892 đến 0,930, đều vượt ngưỡng 0,7. Phương sai trích trung bình (AVE) đạt từ 0,673 đến 0,794, đều lớn hơn 0,5, khẳng định các thang đo đạt giá trị hội tụ (Bảng 2).

Giá trị phân biệt được kiểm định đồng thời qua hai tiêu chí. Kết quả hệ số tải chéo cho thấy mọi biến quan sát đều tải mạnh nhất lên đúng cấu trúc mà nó đại diện. Theo tiêu chí Fornell và Larcker (1981), căn bậc hai của AVE của mỗi nhân tố đều lớn hơn hệ số tương quan giữa nhân tố đó với các nhân tố còn lại. Như vậy, 7 khái niệm trong mô hình có sự phân biệt rõ ràng và không chồng chéo lẫn nhau. Không có biến quan sát nào bị loại khỏi mô hình.
3.1.3. Đánh giá mô hình cấu trúc và kiểm định giả thuyết
Hệ số phóng đại phương sai (VIF) của 5 nhân tố độc lập dao động từ 1,155 đến 1,602, đều nhỏ hơn ngưỡng 5, khẳng định mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến đáng kể. Hệ số xác định R² của biến Mức độ ứng dụng TMĐT đạt 0,492 và của biến Mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống đạt 0,388, đều thuộc mức giải thích trung bình theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2019).
Về hệ số tác động f², nhân tố Quản lý có giá trị cao nhất trong nhóm biến độc lập (f² = 0,147), tiếp theo là Rủi ro cảm nhận (f² = 0,124), Công nghệ (f² = 0,044), Tổ chức (f² = 0,029) và Môi trường (f² = 0,020). Các giá trị này đều thuộc mức ảnh hưởng yếu theo Cohen (1988), trong đó nhân tố Quản lý tiệm cận ngưỡng ảnh hưởng trung bình. Riêng mối quan hệ giữa Mức độ ứng dụng TMĐT và Mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh đạt f² = 0,635, vượt xa ngưỡng 0,35 và thuộc mức ảnh hưởng mạnh.
Kết quả kiểm định bằng kỹ thuật Bootstrapping với 5.000 mẫu lặp cho thấy toàn bộ 6 mối quan hệ trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, với giá trị kiểm định T đều lớn hơn 1,96 và p-value đều nhỏ hơn 0,05. Như vậy, cả 6 giả thuyết nghiên cứu đều được ủng hộ (Bảng 3).

Trong nhóm nhân tố tác động đến mức độ ứng dụng TMĐT, Quản lý có hệ số đường dẫn lớn nhất (β = 0,293; T = 6,138), tiếp theo là Rủi ro cảm nhận với tác động ngược chiều (β = -0,276; T = 6,621), Công nghệ (β = 0,186), Tổ chức (β = 0,146) và Môi trường (β = 0,128). Đáng chú ý nhất, mối quan hệ giữa Mức độ ứng dụng TMĐT và Mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống đạt hệ số lớn nhất trong toàn bộ mô hình (β = 0,623; T = 19,768).
3.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu
3.2.1. Vai trò quyết định của năng lực quản trị và rào cản rủi ro cảm nhận
Phát hiện trung tâm của nghiên cứu là tác động của TMĐT đến mô hình kinh doanh truyền thống không diễn ra tự động mà phải thông qua mức độ doanh nghiệp thực sự tiếp nhận và khai thác công nghệ. Hệ số β = 0,623 kèm f² = 0,635 của đường dẫn từ mức độ ứng dụng TMĐT đến mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh là bằng chứng định lượng cho luận điểm này, đồng thời củng cố quan điểm của Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Barney, 1991) rằng công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi được khai thác như một năng lực thực chất. Kết quả hàm ý, sự hiện diện hình thức trên nền tảng số không đủ để tạo ra thay đổi mô hình kinh doanh.
Nhân tố Quản lý có tác động tích cực mạnh nhất (β = 0,293), lớn gấp đôi nhân tố Tổ chức (β = 0,146). Kết quả này phù hợp với Lý thuyết Upper Echelons (Hambrick & Mason, 1984) và tương thích với đặc điểm mẫu nghiên cứu, trong đó 76,7% cơ sở có doanh thu dưới 5 tỷ đồng/năm. Ở quy mô này, chủ cơ sở thường đồng thời là người định hướng chiến lược, phân bổ nguồn lực và quyết định mức độ đầu tư cho TMĐT. Phát hiện này bổ sung bằng chứng cho nhận định của Phạm Quang Huy (2023) rằng hiệu quả của TMĐT phụ thuộc đáng kể vào năng lực quản trị nội tại của doanh nghiệp.
Rủi ro cảm nhận là nhân tố duy nhất có tác động ngược chiều và đứng thứ hai về độ lớn (β = -0,276), phù hợp với Lý thuyết Rủi ro cảm nhận của Bauer (1960). Kết quả khảo sát cho thấy, trên 76% người được hỏi lo ngại về bảo mật thông tin, an toàn thanh toán trực tuyến và rủi ro trong vận chuyển hàng hóa. Việc 2 nhân tố Quản lý và Rủi ro có độ lớn gần tương đương nhưng ngược chiều cho thấy quá trình chuyển đổi chịu chi phối đồng thời bởi một động lực nội tại và một lực cản tâm lý. Nếu chỉ thúc đẩy động lực mà không giảm rủi ro cảm nhận, hiệu quả can thiệp sẽ bị triệt tiêu đáng kể.
Một kết quả đáng chú ý khác là nhân tố Môi trường có hệ số tác động thấp nhất (β = 0,128), mặc dù Hà Nội dẫn đầu cả nước về cả Chỉ số Thương mại điện tử và Chỉ số Chuyển đổi số cấp tỉnh. Cách giải thích hợp lý là áp lực từ môi trường bên ngoài, bao gồm cạnh tranh, nhu cầu khách hàng, hạ tầng logistics và chính sách hỗ trợ, tác động tương đối đồng đều lên mọi cơ sở trên cùng địa bàn, do đó ít tạo ra khác biệt giữa các cơ sở. Kết quả khảo sát củng cố cách giải thích này khi 78,4% người được hỏi đồng ý rằng nhu cầu khách hàng thúc đẩy ứng dụng TMĐT và 78,6% cho rằng sự phát triển của sàn TMĐT tạo áp lực thay đổi, tức mức độ cảm nhận gần như đồng nhất. Phát hiện này không phủ nhận vai trò của chính sách, mà hàm ý môi trường thuận lợi là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu năng lực nội tại của cơ sở kinh doanh không được cải thiện.
3.2.2. Hàm ý quản trị và chính sách
Trên cơ sở thứ tự mức tác động đã kiểm định, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh truyền thống, kèm theo nhóm kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước.
Thứ nhất, ưu tiên nâng cao năng lực và tư duy quản trị số của chủ cơ sở, tương ứng với nhân tố có tác động mạnh nhất. Chủ cơ sở cần chuyển từ ra quyết định dựa trên kinh nghiệm sang ra quyết định dựa trên dữ liệu, thông qua việc theo dõi các chỉ số cơ bản như lưu lượng truy cập, tỷ lệ chuyển đổi đơn hàng, chi phí thu hút khách hàng và tỷ lệ hoàn hàng. Để khắc phục tâm lý e ngại đổi mới, nghiên cứu khuyến nghị áp dụng chiến lược thử nghiệm ở quy mô nhỏ, với giới hạn rõ ràng về thời gian và ngân sách, trước khi quyết định mở rộng.
Thứ hai, giảm thiểu rủi ro cảm nhận thông qua chuẩn hóa ba nhóm quy trình tương ứng với nội dung thang đo: bảo vệ thông tin và tài khoản kinh doanh; xác nhận và đối soát thanh toán dựa trên trạng thái giao dịch thực tế trên hệ thống; chuẩn hóa quy trình xử lý, giao nhận và tiếp nhận hàng hoàn. Việc triển khai nên theo lộ trình từ 0 đến 12 tháng để phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh.
Thứ ba, đầu tư công nghệ theo nguyên tắc phù hợp với quy mô. Đối với nhóm cơ sở có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm, chiếm 38,2% mẫu khảo sát, nên ưu tiên các công cụ cơ bản được lựa chọn theo 4 tiêu chí: tổng chi phí sở hữu phù hợp, dễ sử dụng, an toàn dữ liệu và có khả năng nâng cấp. Đối với nhóm doanh thu từ 1 đến dưới 5 tỷ đồng, cần xây dựng lộ trình nâng cấp theo ba giai đoạn gồm số hóa công cụ cơ bản, kết nối và đồng bộ hệ thống, phân tích dữ liệu và tự động hóa.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực tổ chức thông qua việc xác định ngân sách riêng cho hoạt động TMĐT, đa dạng hóa nguồn vốn và tăng cường liên kết, thuê ngoài các dịch vụ kho vận, giao nhận, thanh toán nhằm giảm áp lực đầu tư ban đầu.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền thành phố Hà Nội, do nhân tố Môi trường phản ánh các điều kiện khách quan mà doanh nghiệp không thể tự tạo ra, nghiên cứu kiến nghị ba hướng. Một là, tập trung vào khâu thực thi Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (Quốc hội, 2025), đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ dữ liệu trên các nền tảng. Hai là, đổi mới hoạt động đào tạo theo hướng phân loại đối tượng theo mức độ sẵn sàng, chuyển từ tập huấn lý thuyết sang hướng dẫn thực hành, và đánh giá hiệu quả bằng mức độ áp dụng thực tế thay vì số lượng lớp học. Ba là, tiếp tục phát triển hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt và logistics đô thị, đồng thời hỗ trợ hộ kinh doanh từng bước xây dựng kênh số độc lập nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào các nền tảng trung gian. Các chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ dân số tham gia mua sắm trực tuyến và tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt đã được Thành phố xác định tại Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 03/01/2025 (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025); vấn đề đặt ra là bảo đảm các chỉ tiêu này được chuyển hóa thành mức độ ứng dụng thực chất tại từng cơ sở kinh doanh, đúng với phát hiện trung tâm của nghiên cứu.
3.2.3. Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu còn một số hạn chế. Thứ nhất, dữ liệu chỉ được thu thập từ phía chủ cơ sở kinh doanh, chưa phản ánh góc nhìn của người tiêu dùng. Thứ hai, thiết kế cắt ngang và phương pháp chọn mẫu thuận tiện giới hạn khả năng khái quát hóa theo nghĩa thống kê, đồng thời chỉ cho phép kết luận về quan hệ dự báo trong phạm vi mô hình. Thứ ba, mẫu nghiêng về nhóm chủ cơ sở dưới 35 tuổi, trong khi nhóm tiểu thương lớn tuổi tại các chợ truyền thống chưa được tiếp cận đầy đủ. Thứ tư, hệ số R² ở mức trung bình cho thấy còn nhiều yếu tố chưa được lượng hóa trong mô hình.
4. Kết luận
Nghiên cứu đã xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng TMĐT và mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống tại Hà Nội, dựa trên dữ liệu khảo sát 503 cơ sở bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng có cửa hàng vật lý. Kết quả phân tích PLS-SEM ủng hộ cả 6 giả thuyết nghiên cứu.
Ba kết luận chính được rút ra. Một là, mức độ ứng dụng TMĐT là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống (β = 0,623; f² = 0,635), khẳng định TMĐT chỉ tạo ra thay đổi khi được doanh nghiệp khai thác thực chất. Hai là, trong nhóm nhân tố tiền đề, năng lực và tư duy của người quản lý giữ vai trò quyết định nhất (β = 0,293), vượt trội so với nguồn lực tổ chức (β = 0,146) và điều kiện môi trường (β = 0,128). Ba là, rủi ro cảm nhận là rào cản có sức nặng thống kê lớn thứ hai (β = -0,276), cho thấy việc xây dựng niềm tin về an toàn giao dịch số có ý nghĩa tương đương với việc thúc đẩy động lực đổi mới.
Từ kết quả trên, nghiên cứu khẳng định TMĐT không làm mô hình kinh doanh truyền thống tại Hà Nội biến mất, mà thúc đẩy quá trình tái cấu trúc theo hướng kết hợp giữa cửa hàng vật lý và nền tảng số. Trong mô hình kết hợp này, cửa hàng vật lý tiếp tục giữ giá trị về trải nghiệm, tương tác và niềm tin, trong khi TMĐT đảm nhiệm vai trò mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả vận hành.
Đóng góp chính của nghiên cứu là cung cấp bằng chứng định lượng về thứ tự ưu tiên can thiệp, qua đó khuyến nghị các chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho khu vực kinh doanh truyền thống cần ưu tiên nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro cảm nhận, thay vì chỉ tập trung vào đầu tư hạ tầng công nghệ hoặc triển khai đào tạo đại trà. Các nghiên cứu tiếp theo có thể thu thập dữ liệu theo chuỗi thời gian, bổ sung góc nhìn người tiêu dùng, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng và đưa thêm các biến như văn hóa doanh nghiệp, chiến lược cạnh tranh hoặc đặc thù ngành hàng nhằm nâng cao khả năng giải thích của mô hình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Kết quả xếp hạng Chỉ số Chuyển đổi số (DTI) cấp tỉnh năm 2024. https://mst.gov.vn/
Cục Thống kê thành phố Hà Nội. (2025). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng thành phố Hà Nội năm 2024. https://hanoi.gov.vn/
Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam. (2025). Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2025.
Phạm Duy Hiếu. (2025). Các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng thương mại di động ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Phát triển và Hội nhập, (80), 58-67.
Phạm Quang Huy. (2023). Tác động của thương mại điện tử đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam (Luận án tiến sĩ). Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Quốc hội. (2025). Luật số 122/2025/QH15: Luật Thương mại điện tử, ban hành ngày 10/12/2025.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. (2025). Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 03/01/2025 về phát triển thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2025.
Võ Tiến Sĩ. (2024). Nghiên cứu thương mại điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp tại thành phố Đà Nẵng. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, (30), 83-94.
Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
Bauer, R. A. (1960). Consumer behavior as risk taking. In R. S. Hancock (Ed.), Dynamic marketing for a changing world (pp. 389-398). American Marketing Association.
Cohen, J. (1988). Statistical power analysis for the behavioral sciences (2nd ed.). Lawrence Erlbaum Associates.
Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.
Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39-50.
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.). Pearson.
Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.
Hambrick, D. C., & Mason, P. A. (1984). Upper echelons: The organization as a reflection of its top managers. Academy of Management Review, 9(2), 193-206.
Iacovou, C. L., Benbasat, I., & Dexter, A. S. (1995). Electronic data interchange and small organizations: Adoption and impact of technology. MIS Quarterly, 19(4), 465-485.
Laudon, K. C., & Traver, C. G. (2021). E-commerce 2020-2021: Business, technology and society (16th ed.). Pearson Education Limited.
Osterwalder, A., & Pigneur, Y. (2010). Business model generation: A handbook for visionaries, game changers, and challengers. John Wiley & Sons.
Ramdani, B., Chevers, D., & Williams, D. A. (2013). SMEs' adoption of enterprise applications: A technology-organisation-environment model. Journal of Small Business and Enterprise Development, 20(4), 735-753.
Tornatzky, L. G., & Fleischer, M. (1990). The processes of technological innovation. Lexington Books.
Van Huy, L., Rowe, F., Truex, D., & Huynh, M. Q. (2012). An empirical study of determinants of e-commerce adoption in SMEs in Vietnam: An economy in transition. Journal of Global Information Management, 20(3), 23-54.
Verhoef, P. C., Kannan, P. K., & Inman, J. J. (2015). From multi-channel retailing to omni-channel retailing: Introduction to the special issue on multi-channel retailing. Journal of Retailing, 91(2), 174-181.
Zhu, K., & Kraemer, K. L. (2005). Post-adoption variations in usage and value of e-business by organizations. Information Systems Research, 16(1), 61-84.
The impact of e-commerce on traditional business models in Hanoi
Nguyen Thi Hanh – Tran Thu Phuong – Nguyen Tri Trung
Class of Economics and Management K43, Faculty of Political Economy, Academy of Journalism and Communication
Abstract:
This study examines the impact of e-commerce on traditional business models in Hanoi and identifies the factors determining the extent of business transformation. The research integrates the Technology-Organization-Environment (TOE) framework, extended with a managerial factor, with Perceived Risk Theory and the Resource-Based View, using a model comprising 30 observed variables. Survey data from 503 retail and consumer-service establishments operating physical stores in Hanoi were analyzed using partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) in SmartPLS. All six hypotheses are supported. The managerial factor has the strongest positive effect on the level of e-commerce adoption (β = 0.293), while perceived risk is the strongest barrier (β = -0.276), and the environmental factor has the weakest effect (β = 0.128). The level of e-commerce adoption has the strongest effect on traditional business model transformation (β = 0.623), indicating that e-commerce does not replace but rather restructures traditional business models. Based on these findings, the study proposes a prioritized set of solutions for businesses together with several policy recommendations.
Keywords: e-commerce, traditional business models, digital transformation, PLS-SEM, Hanoi
