Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững công nghiệp tại địa phương

Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, nhất là đối với các nước đang chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá như Việt Nam. Để đánh giá mức

 1. Tăng trưởng bền vững

 Tăng trưởng bền vững bao hàm cùng lúc các đòi hỏi về tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng. Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở các yếu tố như: giá trị gia tăng (VA), năng lực cạnh tranh và cơ cấu công nghiệp. Như vậy, tăng trưởng bền vững được thể hiện qua 4 yếu tố sau:

 a) Tốc độ tăng trưởng: là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đánh giá mặt lượng của sự phát triển công nghiệp, tốc độ tăng trưởng phản ánh sự gia tăng về quy mô của tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm sau so với năm trước và giữa các thời kỳ với nhau của ngành công nghiệp.

 Muốn có công nghiệp tăng trưởng bền vững, trước hết công nghiệp cần phải có tốc độ tăng trưởng khá và ổn định qua các năm.

 b) Giá trị gia tăng (VA): giá trị gia tăng (VA) là chỉ tiêu quan trọng bậc nhất phản ánh chất lượng tăng trưởng. Thông thường, người ta hay sử dụng một chỉ tiêu tương đối là tỷ lệ giữa giá trị gia tăng (VA) và giá trị sản xuất công nghiệp (GO) để so sánh và đánh giá mức độ giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp. Tỷ lệ VA/GO càng cao thì mức độ phát triển của công nghiệp càng cao và ngược lại. Hiệu quả của sản xuất công nghiệp thể hiện ở giá trị tăng thêm (VA) mà nó tạo ra cho nền kinh tế, công nghiệp tăng trưởng với tốc độ cao, ổn định, nhưng giá trị gia tăng thấp thì cũng không thể coi là phát triển được vì như vậy, việc sử dụng các nguồn lực và yếu tố đầu vào là không có hiệu quả, gây lãng phí tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác của xã hội. Việc tạo ra giá trị gia tăng thấp trong ngành công nghiệp là hệ quả của việc sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên và lao động thủ công, hàm lượng chất xám và công nghệ trong giá thành sản phẩm chiếm tỷ trọng nhỏ. Giá trị gia tăng thấp có thể là một biểu hiện đặc trưng cho thời kỳ đầu phát triển công nghiệp hoá dựa vào gia công, song nếu không nhận diện và điều chỉnh kịp thời, sẽ tạo ra các mầm mống thiếu bền vững trong tương lai.

 c) Năng lực cạnh tranh: Phản ánh những giá trị lợi thế vô hình và hữu hình, những cơ hội thu hút đầu tư và tạo ra lợi nhuận của ngành công nghiệp. Năng lực cạnh tranh là yếu tố quan trọng trong đánh giá chất lượng tăng trưởng. Tuy nhiên, việc lượng hoá chỉ tiêu này là tương đối khó khăn. Về mặt định tính, năng lực cạnh tranh biểu hiện ở khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp, hay nói cách khác, là chỗ đứng của các sản phẩm công nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước.

 d) Cơ cấu công nghiệp: Về mặt lượng, cơ cấu công nghiệp được xác định bằng tỷ trọng giá trị sản lượng (hoặc GDP) của từng bộ phận chiếm trong tổng giá trị sản lượng (hoặc GDP) của toàn bộ công nghiệp. Tỷ trọng này phụ thuộc vào vị trí của mỗi bộ phận trong hệ thống. Những ngành công nghiệp then chốt, mũi nhọn thường chiếm tỷ trọng lớn, vì chúng luôn được ưu tiên về đầu tư phát triển. Những ngành công nghiệp mới lúc đầu thường chiếm tỷ trọng nhỏ, tỷ trọng này sẽ tăng dần lên cùng với sự trưởng thành của chúng.

 Việc xác định thế nào là một cơ cấu ngành công nghiệp cân đối và hợp lý cho mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ và mỗi địa phương là khác nhau và không có một khuôn mẫu thống nhất. Một cơ cấu ngành công nghiệp được coi là cân đối và hợp lý khi nó khai thác, tận dụng được các nguồn lực, thế mạnh và lợi thế so sánh của quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương để tạo điều kiện tốt cho phát triển công nghiệp, đồng thời cơ cấu ngành công nghiệp đó phải chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa. Ngoài việc xác định cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp, chúng ta còn phải quan tâm đến đóng góp của công nghiệp vào cơ cấu kinh tế nói chung, nói cách khác là quan tâm đến tỷ trọng của công nghiệp trong GDP. Một nền kinh tế chỉ được coi là phát triển khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP ngày càng tăng.

 2. Doanh nghiệp bền vững

 Doanh nghiệp là cấu thành quan trọng nhất của công nghiệp, mỗi doanh nghiệp phải thực sự bền vững mới tạo ra nền công nghiệp bền vững. Ngoài các chỉ tiêu đánh giá mặt lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp như năng suất lao động, lợi nhuận, tăng trưởng... về mặt chất, doanh nghiệp bền vững được đánh giá trên các mặt sau:

 a) Quá trình sản xuất sạch, hiệu quả: nguyên tắc quan trọng nhất của phát triển bền vững là hài hoà giữa phát triển và bảo vệ môi trường. Trong công nghiệp, phát triển phải đi đôi với giảm thiểu ô nhiễm và phát thải, điểm mấu chốt của vấn đề bảo vệ môi trường trong công nghiệp chính là quá trình sản xuất, bởi sản xuất công nghiệp là nguyên nhân cơ bản tạo ra chất thải và các tác động tới môi trường và xã hội. Sản xuất công nghiệp không tránh khỏi tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước, năng lượng, nguyên vật liệu và cả sản phẩm do chính công nghiệp tạo ra. Song, quá trình sản xuất thế nào để phát thải ít nhất, tiết kiệm nhất để các tài nguyên tái tạo có thể tái tạo được và giảm thiểu mất mát các tài nguyên không tái tạo. Quá trình sản xuất sạch, hiệu quả chính là cách tốt nhất, đảm bảo cả ba lợi ích: kinh tế, xã hội, môi trường không những cho thế hệ hiện tại, mà còn cho cả thế hệ mai sau. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần phải sở hữu một quá trình sản xuất sạch, hiệu quả dựa trên công nghệ sản xuất hiện đại, phù hợp với năng lực, khả năng của doanh nghiệp.

 b) Sản phẩm thân thiện môi trường: việc tiêu dùng sản phẩm công nghiệp đang tạo ra lượng chất thải rất lớn như hàng tiêu dùng, bao gói, hoá chất... nếu không được xử lý sẽ gây ra ô nhiễm rất lớn, nhưng nếu xử lý sẽ rất tốn kém. Như vậy, để phát triển bền vững, doanh nghiệp phải sở hữu quá trình sản xuất sạch, hiệu quả không thôi là chưa đủ, mà cần hướng tới việc sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm không chất thải, các mô hình công nghiệp sinh thái, trong đó các sản phẩm và chất thải được quay vòng, tái sử dụng, trao đổi trong một "vòng đời khép kín (life cycle)". Mặc dù đây là đòi hỏi khá cao, chỉ có thể đáp ứng khi công nghiệp phát triển đến trình độ nhất định và sẽ là khó khăn cho phần lớn các địa phương của Việt Nam chủ yếu dựa vào các ngành công nghiệp như: khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, năng lượng, gia công, sơ chế, sản xuất các sản phẩm thô... Tuy nhiên, tiếp cận này hiện đang trở lên phổ biến trên thế giới và bước đầu được thực hiện ở Việt Nam.

 c) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản xuất, môi trường và xã hội. Bền vững trước hết phải bắt nguồn từ trong ý thức, quyết định hành động và ứng xử của mỗi doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội phản ánh cách ứng xử của doanh nghiệp đối với môi trường xung quanh và các vấn đề có liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp chỉ được coi là bền vững khi nó đảm bảo được trách nhiệm đối với xã hội đầy đủ của mình.

 3. Tổ chức không gian lãnh thổ và phân bố công nghiệp hợp lý

 Để phát triển bền vững, ngoài các đòi hỏi về tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp bền vững, thì vấn đề tổ chức không gian lãnh thổ và phân bố công nghiệp hợp lý, khai thác được tối đa các thế mạnh địa phương, của vùng và của đất nước là một nội dung không thể thiếu.

 Phân bố công nghiệp, quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của sản xuất công nghiệp cũng như giải quyết các vấn đề khác có liên quan về mặt xã hội, môi trường. Việc bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo vùng lãnh thổ, địa phương ngoài việc khai thác tốt các tiềm năng, nguồn lực và thế mạnh sẵn có về nguồn nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, lao động, thị trường, thu hút vốn đầu tư... còn giải quyết được các vấn đề về cấp điện, cấp nước, xử lý chất thải, chống ô nhiễm môi trường, phân bố dân cư và hình thành các khu đô thị... Phân bố công nghiệp và quy hoạch phát triển công nghiệp không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn phải tính đến các yếu tố trong tương lai; nói cách khác, quy hoạch phải có tầm nhìn rộng và dài.

 Tóm lại, các tiêu chí nêu trên là những tiêu chí chung nhất để đánh giá phát triển bền vững công nghiệp tại địa phương. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức một thực tế là, phát triển bền vững công nghiệp không có một mô hình, khuôn mẫu thống nhất cho tất cả các địa phương cũng như mọi quốc gia và luôn hàm chứa những yếu tố động. Do vậy, ngoài các tiêu chí nêu trên, trong quá trình đánh giá mức độ bền vững trong phát triển công nghiệp của mỗi địa phương, cần cân nhắc và tính toán đến những yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển của mỗi địa phương, mỗi khu vực và mỗi quốc gia.

  • Tags: