Công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ pháp lý

Ngành công nghiệp thuốc lá đã mang lại lợi ích không nhỏ về kinh tế cho nhiều quốc gia. Tuy nhiên, xét về mặt tác hại thì thuốc lá là một ngành sản xuất có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của ngườ

Trong khói và bụi thuốc lá chứa trên 40 chất có khả năng gây ung thư như nicotin, cacbon monoxit, các hợp chất vòng thơm,… trong đó nicotin là thành phần chính gây hại đến sức khỏe con người, nó là chất gây độc thần kinh rất mạnh, gây ảnh hưởng đến da, phổi, tim mạch...

Từ quy phạm pháp luật...

Để giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh liên quan đến sử dụng các sản phẩm thuốc lá, Tổ chức Y tế Thế giới đã khởi xướng xây dựng Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá (FCTC). Nội dung của Công ước Khung có liên quan đến nhiều lĩnh vực, như: sản xuất, buôn bán và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá. Tính đến ngày 30/7/2009, đã có 168 quốc gia ký Công ước, trong đó 166 quốc gia đã phê chuẩn Công ước Khung. Tại Việt Nam, ngày 11/11/2004, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Quyết định số 877/2004/QĐ/CTN phê chuẩn Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có hiệu lực từ ngày 17/3/2005.

Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý ngành thuốc lá phù hợp cam kết WTO, từng bước thực hiện FCTC, ngày 13/6/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 88/2007/QĐ-TTg phê chuẩn Chiến lược tổng thể ngành thuốc lá Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020. Nhằm giảm thiểu độc hại, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, tuân thủ Công ước khung FCTC, tuân thủ các quy định về quản lý sản xuất sản phẩm thuốc lá, Chính phủ đã quy định rõ trong vấn đề đầu tư, như: “... Thanh lý, tiêu hủy các thiết bị cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm. Đến năm 2015, máy móc thiết bị hiện đại chiếm 40%; năm 2020, máy móc thiết bị hiện đại chiếm 55% năng lực sản xuất của toàn ngành. Di dời một số nhà máy sản xuất ra khỏi trung tâm thành phố theo quy hoạch như: Công ty Thuốc lá Sài Gòn, Công ty Thuốc lá Thăng Long, Công ty Thuốc lá Bến Thành... Đầu tư nâng năng lực nghiên cứu khoa học kỹ thuật để tăng chất lượng và giá trị sản phẩm, giảm thiểu chất độc hại và gây ô nhiễm môi trường”.

Tiếp đến, ngày 21/8/2009, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1315/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá. Quyết định này đã quy định rõ về lộ trình thực hiện các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng các sản phẩm thuốc lá và các biện pháp giảm cung cấp các sản phẩm thuốc lá tiêu thụ trong nước. Ví dụ, để giảm nhu cầu sử dụng các sản phẩm thuốc lá thì cần có lộ trình thực hiện các biện pháp như: Về giá và thuế đối với sản phẩm thuốc lá; Phòng tránh tiếp xúc với khói thuốc lá; Quy định về công bố các thông tin về sản phẩm thuốc lá; Quy định việc dán tem, đóng gói và ghi nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá; Các biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng chống tác hại thuốc lá; Các biện pháp về hỗ trợ cai nghiện thuốc lá. Còn để giảm cung cấp các sản phẩm thuốc lá tiêu thụ trong nước, thì cần áp dụng các biện pháp như: Kiểm soát buôn bán các sản phẩm thuốc lá; Ngăn ngừa trẻ vị thành niên bán thuốc lá và bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên; Hỗ trợ phát triển kinh tế, chuyển đổi hoạt động sản xuất cho người lao động trong ngành sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thuốc lá.

Để giảm thiểu tác hại của việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá tới sức khỏe, kinh tế, xã hội và môi trường, để tạo hành lang pháp lý và thúc đẩy sự tham gia của các cấp lãnh đạo, ngày 18/6/2012, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Luật số 09/2012/QH13) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013.

Nhằm giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát để từng bước giảm mức cung cấp các sản phẩm thuốc lá tiêu thụ tại thị trường Việt Nam, giảm nguy cơ bệnh tật và tử vong do sử dụng thuốc lá gây ra, ngày 25/01/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2020” tại Quyết định số 229/QĐ-TTg. Chính phủ nêu rõ quan điểm: “Công tác phòng, chống tác hại thuốc lá phải được sự quan tâm của lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương và phải được coi là một nhiệm vụ thường xuyên, có tính chất liên ngành”. Trong đó, Bộ Công Thương có trách nhiệm: “Chủ trì xây dựng quy hoạch mạng lưới kinh doanh bán buôn, bán lẻ các sản phẩm thuốc lá, đầu tư ngành công nghiệp thuốc lá; thí điểm cấp phép các điểm bán lẻ thuốc lá. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từng bước tiến hành các nghiên cứu và xây dựng các đề án thay thế khả thi về kinh tế cho người trồng thuốc lá, công nhân sản xuất thuốc lá khi tổ chức sắp xếp lại ngành. Phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác phòng, chống buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá”.

Để có chế tài xử lý những hành vi vi phạm tới công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá, ngày 14/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Tại Nghị định này, có tới 5 điều (từ Điều 23 đến Điều 27) xử lý các hành vi vi phạm liên quan tới công tác phòng, chống tác hạn của thuốc lá. Cụ thể: Điều chỉnh hành vi Vi phạm quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá (Điều 23); hay Vi phạm quy định về bán thuốc lá được điều chỉnh bởi Điều 24; Vi phạm quy định về ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá (Điều 25); Vi phạm quy định về cai nghiện thuốc lá (Điều 26); Vi phạm quy định khác về phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 27).

... Đến thực thi!

Với vai trò là cơ quan đầu mối trong công tác phòng, chống tác hại (PCTH) thuốc lá theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian vừa qua Bộ Y tế đã triển khai một số hoạt động nhằm đưa Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá vào cuộc sống. Cụ thể; 1) Ngày 22/11/2012, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch số 1012/KH-BYT về việc triển khai thi hành Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá. 2) Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Pphòng, chống tác hại thuốc lá. 3) Triển khai hoạt động phổ biến Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá. Chương trình Phòng, chống tác hại thuốc lá đã nhận được kế hoạch của 6 bộ, ngành; 9 tổ chức đoàn thể và 34 UBND các tỉnh về triển khai Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá.

Tiếp đến phải kể tới hoạt động thực hiện môi trường không khói thuốc do Liên đoàn Lao động cả nước tổ chức thực hiện. Tham gia hoạt động này có 48 bộ, ngành và địa phương đã xây dựng kế hoạch thực hiện quy định môi trường không khói thuốc lá tại cơ quan, công sở. Kết quả, nhiều mô hình làm việc không khói thuốc lá đã được thí điểm thành công, góp phần bảo vệ môi trường làm việc an toàn, lành mạnh cho người lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Luật, Chương trình Phòng, chống tác hại thuốc lá vẫn còn một số tồn tại, như:

- Công tác truyền thông về Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá đã được thực hiện khá rầm rộ trong thời gian qua, tuy nhiên mới chỉ tập trung tại một số kênh truyền thông trung ương, với thời lượng khiêm tốn, do đó các thông tin về quy định của Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá chưa được truyền thông rộng rãi trong cộng đồng, vẫn còn nhiều người dân chưa nắm được các quy định của Luật.

- Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá, đặc biệt là công tác kiểm tra thực hiện quy định cấm hút thuốc lá tại các địa điểm cấm hút thuốc theo quy định của Luật chưa được thực hiện tốt, hiện tượng vi phạm quy định cấm hút thuốc lá tại nhiều địa điểm công cộng còn xảy ra khá nghiêm trọng. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn chưa cao.

- Những nội dung đề cập chủ yếu vẫn nhằm vào các đối tượng sử dụng thuốc lá và những người chịu ảnh hưởng từ khói thuốc của những người hút thuốc lá, còn sức khỏe của người lao động tại nơi sản xuất thuốc lá thì đề cập quá ít nên chưa có biện pháp giảm thiểu chất độc hại tại nơi sản xuất, chế biến được đưa ra. Để giảm thiểu tác động của các chất phát tán vào không khí do sản xuất thuốc lá gây ra và ảnh hưởng của nicotin có trong môi trường không khí nói riêng đến sức khỏe người lao động nơi sản xuất thuốc lá cần phải có chiến lược và biện pháp cụ thể.