Thị trường nhập khẩu lớn với lợi thế thuộc về người mua...
Với sức tiêu thụ gạo lớn nhất trên thế giới (khoảng 208,6 triệu tấn/năm), chiếm gần 30% lượng gạo tiêu thụ toàn cầu, Trung Quốc có tầm ảnh hưởng rất lớn trên thị trường gạo thế giới. Các chính sách về nhập khẩu gạo của nước này có thể tác động mạnh đến cung - cầu gạo, giá gạo và ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu gạo của các nước cung ứng chính.
Trước năm 2010, Trung Quốc nhìn chung xuất siêu gạo. Năm 2011, tranh thủ thời cơ giá gạo thế giới giảm mạnh, nước này nhập khẩu mạnh để bổ sung kho dự trữ gạo quốc gia, đẩy lượng gạo nhập khẩu lên đến 578 nghìn tấn, lần đầu tiên vượt qua số lượng gạo xuất khẩu. Năm 2014, Trung Quốc nhập khẩu 2,579 triệu tấn gạo (chủ yếu là gạo hạt dài), tăng 13,6% so với năm 2013 (1,2% tổng lượng gạo tiêu thụ trong năm).
Một số địa phương có nhu cầu nhập khẩu gạo lớn gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Giang Tô, Triết Giang, Bắc Kinh, Vân Nam… Năm 2014, Quảng Đông nhập khẩu khoảng 1,35 triệu tấn, Quảng Tây trên 191.000 tấn, Vân Nam nhập khẩu khoảng 600.000 tấn.
Những đợt nhập khẩu tăng mạnh của Trung Quốc chủ yếu phục vụ bổ sung kho dự trữ quốc gia. Ước tính dự trữ gạo của nước này hiện lên tới 117 ngày so với mức trung bình 71 ngày của thế giới.
Trung Quốc quản lý nhập khẩu gạo theo chế độ cấp hạn ngạch. Năm 2015, hình thức phân bổ hạn ngạch có điều chỉnh so với các năm trước, theo đó không cấp hạn ngạch cho cả năm như các năm trước đây mà chỉ cấp từng đợt với số lượng nhỏ. Khi dùng hết số hạn ngạch đã được cấp thì doanh nghiệp làm thủ tục xin tiếp cho đợt sau. Tiêu chí để xét duyệt để cấp hạn ngạch cũng phức tạp hơn so với trước đây, theo đó doanh nghiệp xin cấp hạn ngạch phải mua lại và tiêu thụ gạo tồn kho trong nước rồi mới được xét cấp hạn ngạch để nhập khẩu gạo từ nước ngoài. Từ tháng 9/2014, Hải quan Trung Quốc quy định độ dài chuẩn của hạt gạo là 6,6 mm, nếu lớn hơn 6,6 mm thì được coi là gạo hạt dài và nhỏ hơn 6,6 mm thì là gạo hạt ngắn. Hạn ngạch cũng sẽ được cấp theo từng loại gạo.
...và cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt
Theo thống kê của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), năm 2011, thị phần của gạo Việt Nam bất ngờ tăng mạnh từ mức 8,81% năm 2010 lên đến gần 32% và tiếp tục tăng lên gần 60% tổng kim ngạch nhập khẩu gạo chính ngạch vào Trung Quốc. Lợi thế giá rẻ, điều kiện bán hàng dễ dãi và thuận tiện về địa lý là những yếu tố giúp gạo Việt Nam được các thương nhân Trung Quốc ưu tiên nhập khẩu. Nhưng gần đây, chính sách giảm giá gạo xuất khẩu để giải phóng hàng tồn kho của Thái Lan và xu hướng đầu tư vào nông nghiệp Campuchia của Trung Quốc đang tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cho gạo Việt Nam trên thị trường Trung Quốc. Điều này được thể hiện rất rõ qua việc thị phần của gạo Thái Lan đã tăng từ 22,34% năm 2013 lên 32,52% năm 2014, của gạo Campuchia cũng tăng từ 1,81% lên 2,57% trong khi thị phần gạo của Việt Nam giảm liên tục từ 60% năm 2012, xuống còn 58% năm 2013 và 50% năm 2014.
Với nỗ lực giải phóng 17,8 triệu tấn gạo tồn kho, Thái Lan có thể duy trì mức giá xuất khẩu rất cạnh tranh đủ để hấp dẫn các khách hàng Trung Quốc. Hơn nữa chất lượng gạo của nước này luôn nổi trội hơn so với gạo Việt Nam cả về kích cỡ, độ bóng và mùi thơm. Các doanh nghiệp Thái Lan cũng vốn có nhiều kinh nghiệm hơn trong hoạt động marketing và giao dịch, kí kết hợp đồng. Do đó, gạo xuất khẩu của Thái Lan đang có lợi thế cạnh tranh cả về giá và chất lượng.
Trong khi đó, áp lực cạnh tranh còn đến từ “đối thủ mới” là gạo của Campuchia. Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu gạo từ Campuchia. Nước này đang kỳ vọng Trung Quốc sẽ nâng hạn ngạch nhập khẩu gạo Campuchia lên 200.000 tấn trong niên vụ 2015/2016. Điều đáng nói là giá chào bán gạo xuất khẩu 5% tấm của Campuchia có thời điểm cao hơn 75 USD/tấn so với giá gạo cùng loại của Việt Nam nhờ chất lượng với tỉ lệ hạt gạo đồng nhất hơn so với gạo trắng trộn lẫn và không có thương hiệu của Việt Nam. Xu hướng tăng cường đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc vào ngành nông nghiệp Campuchia cũng đang mở đường cho gạo và các sản phẩm từ gạo của nước này vào thị trường Trung Quốc thuận lợi hơn.
...đòi hỏi những chiến lược và nỗ lực xuất khẩu mới
Những diễn biến và áp lực cạnh tranh mới trên thị trường Trung Quốc đòi hỏi những nỗ lực và đột phá hơn nữa trong xuất khẩu gạo của Việt Nam, trên cả phương diện sản xuất, ngoại giao và thương mại.
Theo đó, cần thúc đẩy ký kết thỏa thuận hợp tác thương mại gạo cấp Chính phủ hoặc cấp Bộ giữa hai nước nhằm tạo điều kiện xuất khẩu gạo sang Trung Quốc một cách bền vững và bài bản. Ngoài ra, tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các cơ quan ngành lương thực của hai nước như Hiệp hội Lương thực của Việt Nam và của Trung Quốc, các cơ quan nghiên cứu, xúc tiến thương mại… để thiết lập hệ thống trao đổi thông tin hiệu quả về thị trường, công nghệ và giao dịch gạo giữa hai nước.
Một nhiệm vụ quan trọng nữa là đầu tư bài bản cho việc xây dựng chuỗi giá trị xuyên biên giới từ Việt Nam sang các thị trường tiêu thụ chính tại Trung Quốc, với lực lượng tiên phong là các doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu gạo, có vùng nguyên liệu bền vững đủ để đảm bảo chất lượng và độ đồng đều của hàng xuất khẩu và có định hướng, quyết tâm xây dựng quan hệ đối tác với các nhà nhập khẩu chính ngạch của Trung Quốc. Có như vậy mới nâng cao giá trị gia tăng cho gạo xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời đảm bảo các kênh tiêu thụ ổn định, từ đó tạo chỗ đứng cho thương hiệu gạo của Việt Nam tại các thị trường cấp trung bình trở lên của Trung Quốc. Đây là những gì Thái Lan đã làm thành công và Campuchia đang nỗ lực thực hiện.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cần tận dụng tốt thị trường Hồng Kông làm thị trường trung chuyển để đưa gạo vào thị trường Trung Quốc, thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng quan hệ đối tác bền vững giữa các nhà xuất khẩu gạo của Việt Nam và các đầu mối nhập khẩu chính tại Hồng Kông.
