[eMagazine] Công nghệ chế biến sâu: Chuyển hóa lợi thế nguyên liệu đặc sản thành giá trị gia tăng
02/10/2026 lúc 10:05 (GMT)

[eMagazine] Công nghệ chế biến sâu: Chuyển hóa lợi thế nguyên liệu đặc sản thành giá trị gia tăng

 

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu nhiều sản vật đặc trưng, được hình thành từ điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, khí hậu và tri thức sản xuất bản địa. Đây vừa là nguồn sinh kế của người dân, vừa tạo nên những giá trị khác biệt của từng vùng. Tuy nhiên, lợi thế này vẫn chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị kinh tế. Thực tiễn tại một số cơ sở sản xuất cho thấy, chế biến sâu đang trở thành một hướng đi quan trọng nhằm kéo dài vòng đời sản phẩm, gia tăng giá trị và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường.

CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN CẦN ĐƯỢC ĐẶT TRONG BÀI TOÁN TỔNG THỂ VÙNG NGUYÊN LIỆU

Với nhiều sản phẩm nông nghiệp, giá trị vẫn chủ yếu được xác lập ở dạng nguyên liệu tươi hoặc qua sơ chế đơn giản. Đặc tính mùa vụ, thời hạn bảo quản ngắn và khoảng cách từ vùng sản xuất tới thị trường tiêu thụ khiến áp lực đầu ra thường gia tăng khi bước vào chính vụ. Khi năng lực sơ chế, bảo quản, chế biến và tiêu thụ không theo kịp sản lượng thu hoạch, lợi thế về nguyên liệu có thể nhanh chóng trở thành sức ép đối với người sản xuất.

Các sản phẩm nông sản tươi khó bảo quản và không tạo được giá trị cao khi chưa đưa vào chế biến sâu

Đối với sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bài toán đặt ra vì vậy không chỉ là tạo ra nguyên liệu đặc trưng, mà còn là làm thế nào chuyển các đặc tính đó thành giá trị hàng hóa cao hơn thông qua bảo quản, chế biến và phát triển sản phẩm.

Thực tế tại Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm ở Phú Thọ cho thấy rõ quá trình chuyển đổi này.

HTX hiện có khoảng 30 ha thanh long ruột đỏ làm vùng nguyên liệu. Từ thực tế có thời điểm thanh long được mùa nhưng giá giảm, trong khi quả tươi khó bảo quản lâu và vận chuyển xa, HTX đã tìm hướng chế biến thay vì chỉ tập trung tiêu thụ quả tươi. Thanh long được kết hợp với gạo Bao Thai Hồng để phát triển sản phẩm mì gạo thanh long, sản xuất trên dây chuyền công nghiệp và sấy khô trong quy trình khép kín.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc tạo thêm một sản phẩm, mà ở sự chuyển dịch từ tư duy bán nguyên liệu sang phát triển hàng hóa chế biến. Nếu thanh long tươi chịu giới hạn bởi mùa vụ và thời hạn bảo quản, sau chế biến, nguyên liệu được chuyển thành sản phẩm có khả năng bảo quản, vận chuyển và phân phối thuận lợi hơn. Việc kết hợp hai sản vật bản địa cũng góp phần tạo khác biệt cho sản phẩm, thay vì cạnh tranh chủ yếu bằng giá nguyên liệu.

Trường hợp Lộc Thúy Quỳnh Farm cho thấy chế biến sâu có thể trở thành một trong những công cụ chuyển lợi thế sản vật thành giá trị hàng hóa cao hơn. Tuy nhiên, tạo ra sản phẩm mới chưa đồng nghĩa với tạo ra hiệu quả kinh tế. Hiệu quả còn phụ thuộc vào công nghệ được lựa chọn, quy mô đầu tư, năng lực vận hành và khả năng thị trường hấp thụ sản phẩm.

Lộc Thúy Quỳnh Farm cho thấy quá trình chuyển đổi sâu

Theo ông Phạm Quyết Tiến - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, việc lựa chọn công nghệ chế biến cần được đặt trong bài toán tổng thể, từ quy mô vùng nguyên liệu, khả năng đầu tư, trình độ vận hành đến hiệu quả sau chuyển giao. Các yếu tố như quản lý thiết bị, bảo trì, vật tư thay thế, sản lượng hòa vốn và đầu ra sản phẩm cần được tính toán ngay từ đầu.

“Chuyển giao công nghệ phải là quá trình đồng hành, không chỉ bàn giao máy móc, gồm thiết kế mô hình, thử nghiệm, đo lường hiệu quả, điều chỉnh quy trình, đào tạo thực hành tại chỗ và xây dựng đội ngũ kỹ thuật nòng cốt ở hợp tác xã, địa phương” – ông Phạm Quyết Tiến nhấn mạnh.

Chỉ khi được chế biến sâu thì nông sản mới có giá trị cao

Từ góc độ đó, với các HTX quy mô nhỏ, bài toán không nằm ở việc đầu tư dây chuyền lớn ngay từ đầu, mà ở lựa chọn công nghệ phù hợp với quy mô vùng nguyên liệu, năng lực sản xuất và khả năng tiêu thụ. Khi vùng nguyên liệu, thị trường và năng lực vận hành được củng cố, mức độ chế biến mới có cơ sở để tiếp tục được nâng lên.

Tại HTX Lộc Thúy Quỳnh Farm, sau sản phẩm mì gạo thanh long, HTX tiếp tục hướng tới các dòng sản phẩm chế biến sâu, tiện lợi hơn. Bà Trần Thị Thúy - Giám đốc HTX cho biết: “Hợp tác xã định hướng tiếp tục đầu tư công nghệ để phát triển sản phẩm chế biến sâu, tiện lợi, trước mắt là nâng cấp mì thanh long và phát triển sản phẩm mì thanh long thịt bò hầm ăn liền, hướng tới đầu tư dây chuyền sản xuất mì ăn liền. Mục tiêu là nâng khả năng đáp ứng các thị trường có yêu cầu cao và mở rộng xuất khẩu.”

Trường hợp này cho thấy đầu tư công nghệ cần đi cùng định hướng phát triển sản phẩm và đầu ra thị trường. Chế biến sâu vì vậy không đồng nghĩa với chạy đua đầu tư máy móc, mà là lựa chọn mức độ chế biến phù hợp để gia tăng giá trị và bảo đảm hiệu quả kinh tế.

Thị trường, do đó, cần được tính đến ngay từ khi lựa chọn sản phẩm và phương án công nghệ, thay vì chỉ được đặt ra sau khi sản phẩm đã hình thành.

cơ hội mở rộng thị trường cho nông sản sau chế biến sâu

Nếu chế biến sâu giúp kéo dài vòng đời và gia tăng giá trị của sản vật, thị trường là khâu quyết định giá trị gia tăng đó có được chuyển hóa thành doanh thu hay không.

Theo ông Bùi Quang Cường - Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), việc đặc sản vùng cao tìm được chỗ đứng trên thị trường số không chỉ phụ thuộc vào khả năng đưa sản phẩm đến gần người tiêu dùng, mà còn ở năng lực tạo dựng niềm tin và làm rõ giá trị khác biệt của sản phẩm.

Ông Bùi Quang Cường cho rằng: “Truy xuất nguồn gốc và thông tin minh bạch là nền tảng tạo niềm tin, giúp người tiêu dùng hiểu rõ chất lượng, quy trình sản xuất và giá trị của sản phẩm. Đồng thời, cần xác định đúng nhóm khách hàng để điều chỉnh bao bì, thông điệp và cách tiếp cận, trong đó phân khúc quà tặng có nhiều tiềm năng gia tăng giá trị.”

Nhận biết tín hiệu thị trường

Để khai thác hiệu quả thị trường số, các HTX cần nhận diện đúng tín hiệu thị trường. Nhu cầu về giá, quy cách, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm phải trở thành một trong những căn cứ để lựa chọn công nghệ và xác định quy mô sản xuất, thay vì sản xuất trước rồi mới tìm đầu ra.

Tuy nhiên, năng lực khai thác thương mại điện tử giữa các địa phương vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể. Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2026 của VECOM tiếp tục chỉ ra sự chênh lệch lớn về mức độ phát triển thương mại điện tử giữa các trung tâm kinh tế lớn và nhiều địa phương miền núi. Theo báo cáo TP.HCM đạt 91,1 điểm, Hà Nội 87,5 điểm, trong khi Cao Bằng và Lai Châu cùng đạt 4,7 điểm, Sơn La 4,4 điểm và Điện Biên 4,2 điểm.

Khoảng cách này phản ánh dư địa phát triển thị trường số còn lớn, đồng thời cho thấy việc đưa sản phẩm lên môi trường trực tuyến mới chỉ là bước đầu. Để chuyển khả năng tiếp cận thành đơn hàng thực tế, các HTX vùng cao còn phải đồng thời bảo đảm chất lượng, nguồn cung, đóng gói, vận chuyển và năng lực thực hiện đơn hàng.

Do đó, hỗ trợ đặc sản vùng cao trên môi trường số cần đi xa hơn việc mở gian hàng hay đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, hướng tới nâng cao năng lực bán hàng và khả năng đáp ứng thị trường của chính các HTX, cơ sở sản xuất.

Đưa sản phẩm vượt biên giới

Cùng với nỗ lực của các cơ sở sản xuất, những chương trình hỗ trợ về công nghệ, khuyến công và thương mại điện tử đang tạo thêm điều kiện để quá trình nâng giá trị sản phẩm được triển khai từ khâu sản xuất tới thị trường.

Chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2026–2030, được phê duyệt tại Quyết định số 2646/QĐ-BCT, xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những trọng tâm trong phát triển công nghiệp nông thôn. Chương trình đặt mục tiêu xây dựng 100 mô hình trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới hoặc sản xuất sản phẩm mới; đồng thời hỗ trợ 1.600 cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại và dây chuyền công nghệ tiên tiến.

Đáng chú ý, định hướng hỗ trợ không chỉ tập trung vào khâu sản xuất mà còn gắn với phát triển sản phẩm, nhãn hiệu, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường. Điều này cho thấy yêu cầu nâng giá trị sản phẩm ngày càng được đặt trong mối liên hệ giữa công nghệ sản xuất với khả năng thương mại hóa.

Ở phía thị trường, Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026–2030, được Bộ Công Thương phê duyệt tại Quyết định số 1568/QĐ-BCT, đặt mục tiêu thu hẹp khoảng cách thương mại điện tử giữa các địa phương. Theo đó, các địa phương ngoài Hà Nội và TP.HCM phấn đấu chiếm 50% giá trị giao dịch thương mại điện tử B2C của cả nước; 60% số xã và đơn vị hành chính tương đương có thương nhân bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trực tuyến.

Kế hoạch đồng thời xác định việc khai thác lợi thế của từng địa phương về vùng nguyên liệu, năng lực sản xuất, logistics và nguồn nhân lực là cơ sở để thúc đẩy liên kết vùng trong thương mại điện tử.

Như vậy, từ nâng năng lực chế biến đến phát triển thị trường, các chính sách đang tạo thêm dư địa để giá trị của sản vật không dừng ở nguyên liệu mà từng bước được gia tăng thông qua chế biến, phát triển sản phẩm và thương mại hóa.

Chế biến sâu ở các HTX giúp nâng giá trị sản phẩm lên nhiều lần

Thực tiễn cho thấy, chế biến sâu đang giúp nhiều nông sản vùng cao thoát khỏi giới hạn của mùa vụ và hình thức tiêu thụ nguyên liệu thô. Tại Sơn La, Hợp tác xã Dịch vụ Phát triển Nông nghiệp 19/5 (Mộc Châu) đã đầu tư chế biến các loại quả ôn đới thành sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận thị trường ngoài nước. Cũng tại Sơn La, Hợp tác xã Cà phê Bích Thao phát triển các dòng cà phê chế biến sâu, trong đó có cà phê rang xay đặc sản và cà phê hòa tan sấy thăng hoa, từng bước nâng giá trị hạt cà phê vùng cao.

Ở Lâm Đồng, nhiều doanh nghiệp cũng chuyển mạnh từ bán nguyên liệu sang chế biến sâu rau, củ, quả, cà phê và trà bằng các công nghệ như cấp đông nhanh, sấy thăng hoa, qua đó kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng xuất khẩu. Những mô hình này cho thấy, khi công nghệ chế biến gắn với nhu cầu thị trường, sản vật địa phương có thể được nâng lên thành hàng hóa có giá trị cao hơn.

Với Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm, hành trình nâng giá trị sản phẩm cũng đang bước sang giai đoạn mới. Từ mì gạo thanh long, HTX tiếp tục nghiên cứu các dòng sản phẩm chế biến sâu hơn, hướng tới đầu tư dây chuyền mì ăn liền và kế hoạch tiếp cận thị trường Hà Lan vào năm 2027.

Tuy nhiên, những điển hình thành công đó cũng đồng thời phơi bày những thử thách không nhỏ khi bước ra biển lớn. Chia sẻ tại Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao”, bà Trần Thị Thúy - Giám đốc HTX Lộc Thúy Quỳnh Farm thẳng thắn nhìn nhận: đơn vị từng có cơ hội và suýt chút nữa đã chốt được đơn hàng với một đối tác lớn tại Hà Lan, nhưng cuối cùng phải bỏ lỡ chỉ vì vướng rào cản về ngoại ngữ, thiếu hụt nhân sự chuyên môn và năng lực giao dịch thương mại quốc tế.

Câu chuyện thực tế của Lộc Thúy Quỳnh Farm và nhiều doanh nghiệp khác cho thấy: chế biến sâu có thể mở đường cho sản vật đi xa, nhưng để thực sự trụ vững trên bản đồ thương mại toàn cầu, năng lực nội tại của chủ thể sản xuất phải lớn lên tương xứng với sản phẩm.

Nâng tầm đặc sản vùng cao, vì thế, không chỉ là đưa sản phẩm vượt qua biên giới địa lý, mà là chuyển hóa lợi thế bản địa thành năng lực tạo ra giá trị gia tăng cao, đồng thời giữ lại nhiều hơn lợi ích kinh tế cho chính người nông dân. Đây mới là thước đo thực chất của hành trình hiện đại hóa nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên số.

 

Bài: THÚY MÙI
Thiết kế: THÚY MÙI

Đồ họa sử dụng Open AI