[Emagazine] Đằng sau bức tranh nhập siêu 9 tháng: Những chuyển động nào đang diễn ra?
12/10/2026 lúc 17:03 (GMT)

[Emagazine] Đằng sau bức tranh nhập siêu 9 tháng: Những chuyển động nào đang diễn ra?

 

 

9 tháng năm 2026, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, đưa cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang trạng thái nhập siêu. Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu hàng hóa và diễn biến của khu vực sản xuất cho thấy phía sau mức tăng của nhập khẩu là nhiều chuyển động về giá đầu vào, dự trữ nguyên liệu, đầu tư máy móc, thiết bị và mở rộng năng lực sản xuất.

nhập siêu

Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 9 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt trên 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt trên 434 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu trên 453 tỷ USD, tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Tuy nhiên, chênh lệch giữa quy mô kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu mới phản ánh một phần bức tranh. Đi sâu vào cơ cấu hàng hóa cho thấy phần lớn dòng nhập khẩu đang tập trung vào các yếu tố đầu vào cho sản xuất. 

(Nguồn: Cục Thống kê)

Nguồn: Cục Thống kê

Cụ thể, trong 9 tháng, nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%; nhóm nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. 

Đáng chú ý, số liệu chi tiết của Cục Hải quan, Bộ Tài chính cho thấy sự gia tăng nhập khẩu tập trung rất mạnh vào một số nhóm hàng. Nổi bật nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt gần 188,94 tỷ USD, tăng tới 71,7% so với cùng kỳ. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt gần 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%.

sản phẩm điện tử và linh kiện

Như vậy, chỉ riêng hai nhóm hàng này đạt gần 242,89 tỷ USD, tương đương khoảng 53,5% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Bên cạnh đó, nhập khẩu nhiều loại vật tư và sản phẩm phục vụ hoạt động sản xuất cũng tăng, như kim loại thường khác tăng 37,3%; sản phẩm từ sắt thép tăng 25,6%; dây điện và dây cáp điện tăng 22,8%; linh kiện, phụ tùng ô tô tăng 37,6%.  

Diễn biến trên cho thấy mức tăng của nhập khẩu 9 tháng có sự đóng góp đáng kể từ những nhóm hàng gắn với hoạt động sản xuất. Nhưng ngay cả với các nhóm hàng này, sự gia tăng về trị giá nhập khẩu cũng cần được bóc tách kỹ hơn.

Xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 9 tháng năm 2026

Đơn cử, đối với ngành điện tử - một trong những nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn, đồng thời có sự tham gia sâu của các doanh nghiệp FDI và các chuỗi sản xuất toàn cầu, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương chỉ ra ba nhóm yếu tố có tác động đáng kể, gồm: trị giá nguyên liệu tăng cao; gia tăng tích trữ, tồn kho; và mở rộng sản xuất.

Yếu tố đầu tiên là sự gia tăng trị giá nguyên liệu đầu vào. Trong bối cảnh AI phát triển nhanh, theo thông tin được ghi nhận, giá một số vi mạch, chip và SSD phục vụ sản xuất các mặt hàng điện tử có thể tăng từ 300 - 500%. Vì vậy, ngay cả khi số lượng linh kiện nhập khẩu không tăng, trị giá nhập khẩu vẫn có thể tăng mạnh do tác động của giá.

nhập siêu
nhập siêu

Lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu dẫn ví dụ, nếu năm trước doanh nghiệp nhập 1.000 chip và năm nay vẫn nhập 1.000 chip nhưng giá chip tăng mạnh thì kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng tương ứng. Thực tế tại một số doanh nghiệp thuộc hệ thống Samsung cũng cho thấy, dù vẫn xuất siêu nhưng mức xuất siêu giảm so với cùng kỳ năm trước do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao.

Yếu tố thứ hai là việc doanh nghiệp tăng tích trữ và tồn kho để phục vụ sản xuất trong tương lai. Qua làm việc với một số doanh nghiệp điện tử và sản xuất máy tính, Cục Xuất nhập khẩu ghi nhận, trước tình trạng khan hiếm nguyên liệu đầu vào, một số nhà máy và chuỗi công ty đa quốc gia đã chủ động nâng mức dự trữ.

“Có những doanh nghiệp hiện nay đã có dự trữ tồn kho đến tháng 3/2027. Ví dụ, vòng đời liên quan đến dự trữ tồn kho trước kia thông thường là 6 tuần thì nay có trường hợp đã được nâng lên thành 12 tuần”, bà Trịnh Thị Thu Hiền thông tin. Theo bà, tại một số doanh nghiệp, giá trị tồn kho và tích lũy nguyên liệu từ mức khoảng 100 triệu USD đã tăng lên tới 700 triệu USD. Khi số liệu của các doanh nghiệp được cộng gộp, việc gia tăng dự trữ này cũng làm tăng kim ngạch nhập khẩu của ngành điện tử.

Yếu tố thứ ba là quá trình mở rộng sản xuất, tạo thêm tài sản cố định của các chuỗi doanh nghiệp đa quốc gia tại Việt Nam. Bà Hiền dẫn trường hợp Samsung Thái Nguyên mở rộng sản xuất với quy mô tăng thêm 1,8 tỷ USD; Intel chuyển hoạt động sản xuất từ Costa Rica sang Việt Nam; BYD tại Phú Thọ cũng mở rộng và tăng thêm công suất nhà máy. Rõ ràng, quá trình tạo lập tài sản cố định và mở rộng các chuỗi nhà máy sản xuất cũng kéo theo nhu cầu nhập khẩu đầu vào và có thể là một trong những nguyên nhân tác động đến cán cân thương mại của riêng ngành điện tử.

nhập siêu
Những chuyển động phía sau dòng nhập khẩu

Nếu mở rộng góc nhìn từ trường hợp ngành điện tử sang khu vực sản xuất, một số diễn biến về giá đầu vào, hoạt động mua hàng và dự trữ nguyên liệu cũng được phản ánh trong các báo cáo PMI ngành sản xuất Việt Nam do S&P Global công bố hàng tháng. Các báo cáo chỉ ra, trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh nghiệp sản xuất đã trải qua những biến động đáng kể về chi phí đầu vào, hoạt động mua hàng và dự trữ nguyên liệu.

Nổi bật trong đó là áp lực gia tăng chi phí. Trong giai đoạn tháng 3 - 5, xung đột tại Trung Đông khiến giá nhiên liệu, logistics và nhiều yếu tố đầu vào tăng mạnh. Lạm phát chi phí đầu vào có thời điểm đã tăng lên mức cao nhất trong 15 năm.

xuất khẩu

Diễn biến này cho thấy yếu tố giá mà bà Trịnh Thị Thu Hiền chỉ ra đối với nguyên liệu, linh kiện điện tử diễn ra trong bối cảnh rộng hơn, khi các doanh nghiệp sản xuất cũng phải đối mặt với áp lực gia tăng chi phí đầu vào. Theo đó, sự gia tăng về trị giá nhập khẩu trong một số nhóm hàng không chỉ cần được xem xét từ lượng hàng nhập về, mà còn phải tính đến tác động của biến động giá.

Cùng với yếu tố chi phí, hoạt động mua và dự trữ nguyên vật liệu của doanh nghiệp cũng có những thay đổi. Theo khảo sát của S&P Global, sau giai đoạn xung đột Trung Đông có dấu hiệu ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, doanh nghiệp tăng mua nguyên vật liệu để tích trữ do lo ngại về nguồn cung. Đến tháng 7, lượng mua đầu vào tăng với tốc độ nhanh nhất trong khoảng 4 năm rưỡi. 

Đà mở rộng của khu vực sản xuất được duy trì trong suốt 9 tháng. Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam liên tục ở trên ngưỡng 50 điểm, kéo dài chuỗi mở rộng lên 15 tháng liên tiếp. PMI đạt 54,3 điểm vào tháng 2, khi sản lượng tăng nhanh nhất trong 19 tháng. Sau những biến động trong tháng 3 - 4, hoạt động sản xuất phục hồi trở lại; đến tháng 8, sản lượng tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn hai năm. Sang tháng 9, mặc dù đà tăng chậm lại và đơn hàng xuất khẩu suy giảm, sản lượng và tổng số đơn đặt hàng mới vẫn tiếp tục tăng. 

biểu đồ

Tồn kho nguyên vật liệu nhìn chung chịu áp lực giảm khi doanh nghiệp sử dụng đầu vào để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Trong khi đó, tồn kho thành phẩm giảm mạnh; riêng tháng 9/2026 ghi nhận tốc độ giảm nhanh nhất kể từ khi khảo sát PMI bắt đầu vào tháng 3/2011.

Những con số này cho thấy nhu cầu đầu vào phục vụ sản xuất được duy trì trong bối cảnh hoạt động sản xuất tiếp tục mở rộng. Việc doanh nghiệp gia tăng mua nguyên vật liệu trong một số thời điểm, đồng thời sử dụng lượng đầu vào để đáp ứng nhu cầu sản xuất, cho thấy hoạt động mua hàng và dự trữ có sự điều chỉnh theo diễn biến nguồn cung và nhu cầu sản xuất.

xuất khẩu

Mặt khác, quá trình mở rộng sản xuất diễn ra trong bối cảnh dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tập trung mạnh vào công nghiệp chế biến, chế tạo.

Theo Cục Thống kê, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,4 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn FDI thực hiện. Riêng về đăng ký mới và điều chỉnh, công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 21,82 tỷ USD, chiếm 50,3% tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm.

Việc phần lớn vốn FDI thực hiện tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy hoạt động đầu tư vào khu vực sản xuất tiếp tục diễn ra mạnh trong kỳ. Đây cũng là bối cảnh cần tính đến khi xem xét sự gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.

công nghiệp chế biến, chế tạo

Cùng với những chuyển động về đầu vào và đầu tư, hoạt động sản xuất công nghiệp thực tế tiếp tục tăng. Theo Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,93%, riêng ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,16%.

Nhìn rộng hơn, khi đặt cạnh nhau, các dữ liệu về nhập khẩu, PMI, đầu tư và sản xuất công nghiệp cho thấy sự gia tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất trong 9 tháng diễn ra đồng thời với những chuyển động về giá và chi phí đầu vào, hoạt động mua và dự trữ nguyên vật liệu, dòng vốn đầu tư tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo và sự mở rộng của hoạt động sản xuất. Điều này không đồng nghĩa có thể quy toàn bộ mức tăng nhập khẩu cho nhu cầu mở rộng sản xuất, nhưng cho thấy cần nhìn dòng nhập khẩu trong mối quan hệ với những chuyển động đang diễn ra bên trong khu vực sản xuất.

chỉ số sản xuất công nghiệp
Những chuyển động phía sau dòng nhập khẩu

Đặt trong mối quan hệ với hoạt động sản xuất của nền kinh tế, máy móc, thiết bị nhập khẩu có thể tham gia vào quá trình hình thành tài sản cố định, mở rộng công suất và đổi mới dây chuyền sản xuất; nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu được đưa vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm phục vụ thị trường trong nước hoặc xuất khẩu. Vì vậy, việc gia tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất cần được nhìn trong cả quá trình những nguồn lực này được hấp thụ và chuyển hóa trong nền kinh tế.

Các diễn biến trong 9 tháng đầu năm phần nào cho thấy quá trình này đang diễn ra. Nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng cùng với hoạt động mua đầu vào của doanh nghiệp, dòng vốn đầu tư tiếp tục tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo và chỉ số sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng.

công nghiệp chế biến, chế tạo
công nghiệp chế biến, chế tạo

Tuy nhiên, việc các nguồn lực nhập khẩu được đưa vào sản xuất mới là một bước của quá trình chuyển hóa. Vấn đề tiếp theo là từ những đầu vào đó, nền kinh tế tạo ra thêm được bao nhiêu năng lực sản xuất và giá trị gia tăng trong nước. Trong đó, một khía cạnh cần xem xét là khả năng doanh nghiệp trong nước tham gia cung ứng nguyên liệu, linh kiện, sản phẩm và dịch vụ cho các chuỗi sản xuất.

Đây là vấn đề đáng chú ý khi nhìn vào mối liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI và các chuỗi giá trị. Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 và PCI 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chỉ ra, 63,7% doanh nghiệp được khảo sát cho biết vừa mua đầu vào từ khu vực tư nhân trong nước, vừa bán sản phẩm cho chính khu vực này. Trong khi đó, tỷ lệ doanh nghiệp vừa gắn với khu vực FDI ở cả đầu vào và đầu ra chỉ ở mức 5,6%.

Theo báo cáo, điều này phản ánh mức độ kết nối của doanh nghiệp với khu vực FDI và chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế so với các liên kết nội địa. Cấu trúc chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam mang tính nội địa hóa cao, với các mối liên kết chủ yếu xoay quanh khu vực tư nhân trong nước và sự tham gia đáng kể của khu vực phi chính thức.

doanh nghiệp FDI

Khi một phần máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất vẫn phải nhập khẩu, sự mở rộng của sản lượng và xuất khẩu có thể tiếp tục kéo theo nhu cầu nhập khẩu tương ứng. Ở chiều ngược lại, quá trình đầu tư và mở rộng sản xuất cũng tạo ra nhu cầu đối với linh kiện, nguyên vật liệu, sản phẩm phụ trợ và các dịch vụ phục vụ sản xuất, qua đó mở ra dư địa để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất.

Khả năng doanh nghiệp trong nước từng bước đáp ứng những nhu cầu này có ý nghĩa đối với mức độ lan tỏa của quá trình mở rộng sản xuất. Nếu nhiều đầu vào hơn được cung ứng trong nước, giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế có điều kiện gia tăng, đồng thời mức độ phụ thuộc vào một số nguồn nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu có thể từng bước được thu hẹp.

thaco

Ảnh: THACO INDUSTRIES

Ở góc độ này, chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu không chỉ được phản ánh ở quy mô kim ngạch hay trạng thái xuất siêu, nhập siêu. Dòng nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu có thể tạo nguồn lực cho sản xuất, nhưng hiệu quả của quá trình này cuối cùng cần được nhìn ở năng lực sản xuất được hình thành, sản phẩm được tạo ra, giá trị gia tăng trong nước và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các chuỗi sản xuất.

Bởi vậy, trong bối cảnh cả xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng mạnh, vấn đề không đơn thuần là hạn chế nhập khẩu hay hướng tới một trạng thái cán cân thương mại nhất định. Quan trọng hơn là khả năng hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất, đồng thời gia tăng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam.

Cảng tiên sa

Ảnh: Cảng Đà Nẵng

Nội dung: Thy Thảo
Trình bày: Hạ Vĩ