[eMagazine] Kết nối vùng sản xuất với thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
01/10/2026 lúc 09:23 (GMT)

[eMagazine] Kết nối vùng sản xuất với thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

 

 

Chính sách hỗ trợ đang hướng tới kết nối vùng sản xuất với chế biến, logistics và phân phối, mở rộng thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Những không gian phát triển mới được hình thành từ sau khi sắp xếp đơn vị hành chính đang tạo thêm dư địa để tổ chức các liên kết này hiệu quả hơn.

Sắp xếp lại đơn vị hành chính đang mở ra những không gian phát triển có quy mô lớn hơn. Nhưng để dư địa mới chuyển thành cơ hội thị trường, điều quan trọng là hình thành những liên kết kinh tế thực chất giữa các vùng sản xuất.

ảnh 2

Cuối năm 2025, trước áp lực tiêu thụ dong riềng tại Lai Châu, các doanh nghiệp, hợp tác xã đã đến xã Bình Lư khảo sát vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến. Sau chuyến khảo sát, HTX Cô Ba Hồng ký kết tiêu thụ 100 tấn miến dong với HTX Miến dong Vững Tâm; HTX Miến Việt Cường ký kết  thu mua 100 tấn bột dong riềng từ các cơ sở chế biến tại Bình Lư. HTX Cô Ba Hồng đồng thời ký hợp tác với Viettel Post để hỗ trợ quảng bá, logistics và tiêu thụ nông sản Lai Châu.

infor 1

Những hợp đồng này cho thấy một cách kết nối thị trường khá cụ thể: từ nhu cầu tiêu thụ, các đầu mối ngoài địa phương tìm đến vùng nguyên liệu, khảo sát năng lực chế biến, xác định khả năng cung ứng rồi đi đến hợp đồng. Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mở rộng thị trường vì thế không chỉ là đưa hàng hóa đi xa hơn, mà còn là kết nối các năng lực sản xuất, chế biến, logistics và phân phối giữa các địa bàn.

tít 1

Không gian phát triển rộng hơn tạo điều kiện tổ chức lại sản xuất và lưu thông hàng hóa theo lợi thế của từng khu vực. Tại Gia Lai, sau sắp xếp, khả năng kết nối vùng nguyên liệu phía Tây với năng lực chế biến, dịch vụ, logistics và cửa ngõ ra biển phía Đông mở ra một không gian hàng hóa rộng hơn. Sự kết nối này tạo điều kiện để tổ chức chuỗi theo lợi thế của từng khu vực, từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến, lưu thông và tiếp cận thị trường.

Cơ hội này có ý nghĩa trực tiếp với những địa bàn miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Xã Kbang hiện có 18 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào Bahnar chiếm 21,65% dân số. Địa phương xác định ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế HTX và thương mại - dịch vụ là những hướng trọng tâm để nâng cao thu nhập cho người dân (Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai).

ảnh 3

 

Tuy nhiên, quy mô vùng sản xuất lớn hơn chưa đồng nghĩa với khả năng tiếp cận thị trường lớn hơn. Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những xã có quy mô lớn sau sắp xếp có thêm điều kiện hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Khi cấp cơ sở chủ động hơn trong tổ chức vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng và hỗ trợ doanh nghiệp, quá trình tìm kiếm và tổ chức nguồn cung cũng có thể thuận lợi hơn. Tuy nhiên, vùng nguyên liệu mới chỉ là điểm đầu. Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chỉ ra rằng các mắt xích của chuỗi giá trị đã hình thành nhưng chưa gắn kết hiệu quả; vùng nguyên liệu còn nhỏ, phân tán, chi phí logistics cao, cơ sở chế biến xa vùng sản xuất. Theo ông, sau sắp xếp hành chính cần hình thành bản đồ chung về vùng nguyên liệu, đồng thời có quy hoạch chung về cơ sở chế biến, hạ tầng logistics và chiến lược thị trường.

Như vậy, liên kết vùng không đơn thuần là mở rộng phạm vi sản xuất hay tăng số địa phương cùng tham gia. Giá trị của liên kết nằm ở khả năng để mỗi khu vực đảm nhận những khâu phù hợp và bổ trợ cho nhau trong cùng một chuỗi hàng hóa.

ảnh 4

 

tít 2

Từ cách nhìn mới về liên kết vùng, chính sách hỗ trợ tiêu thụ cũng cần đi theo hành trình của sản phẩm. Ngày 29/4/2026, Bộ Công Thương ban hành Hướng dẫn số 3024/HD-BCT thực hiện một số nội dung thuộc ba Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030, trong đó có Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bộ Công Thương).

Điểm đáng chú ý là chính sách không tách khâu tiêu thụ khỏi những điều kiện để hàng hóa có thể ra thị trường. Hướng dẫn đặt ra các nội dung từ hoàn thiện hạ tầng thương mại nông thôn, khuyến khích dịch vụ logistics gắn với vùng sản xuất hàng hóa đến xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu, xây dựng cơ sở dữ liệu sản phẩm và các mô hình liên kết tiêu thụ.

ảnh 5

Câu chuyện của Tổ hợp tác Sản xuất và Kinh doanh chè Tán Ma Hiền Kiệt ở Thanh Hóa cho thấy khá rõ yêu cầu này. Trước đây, các hộ chủ yếu tự trồng, chế biến và bán chè riêng lẻ. Sau khi hình thành tổ hợp tác, các hộ bắt đầu liên kết vùng nguyên liệu, chia sẻ trong chăm sóc, thu hái, thống nhất đơn giá và chất lượng sản phẩm. Việc tập hợp diện tích chè cũng giúp tổ chức nguồn nguyên liệu bài bản hơn.

Từ vùng nguyên liệu đã được tập hợp, bài toán của Tán Ma lúc này nằm ở những khâu tiếp theo. Tổ hợp tác vẫn khó khăn về máy móc, cơ sở chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển và kết nối nhà phân phối; đầu ra chủ yếu dựa vào thị trường trong tỉnh và khách quen. Điều các hộ cần là những đối tác có khả năng tiêu thụ lâu dài với số lượng và chất lượng ổn định.

bà thoa

Đây cũng chính là khoảng trống mà các công cụ hỗ trợ thị trường cần hướng tới: không chỉ giúp hình thành vùng nguyên liệu mà phải nối được vùng nguyên liệu với chế biến và đầu ra.

Đáng chú ý, Hướng dẫn số 3024/HD-BCT đưa yêu cầu đầu ra vào cả mô hình sinh kế cộng đồng. Mối liên kết giữa doanh nghiệp, HTX hoặc tổ chức với người dân tộc thiểu số không chỉ hướng tới hỗ trợ kỹ thuật sản xuất mà còn gắn với thu mua sản phẩm. Cách tiếp cận này đưa chính sách từ hỗ trợ làm ra sản phẩm đến hỗ trợ người dân tham gia một chuỗi sản xuất - tiêu thụ.

ảnh 6

Lớp chính sách này còn được đặt trong một không gian thị trường rộng hơn. Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 5/4/2026 của Chính phủ xác định phát triển mạnh thị trường nội địa, gắn phát triển sản xuất với mở rộng thị trường, bảo đảm cân đối cung - cầu và nâng cao năng lực tiêu thụ hàng hóa trong nước. Bộ Công Thương được giao vai trò đầu mối điều phối, kết nối cung - cầu.

Như vậy, chính sách hỗ trợ riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thêm điều kiện kết nối với chính sách phát triển thị trường trong nước, để sản phẩm không dừng ở phạm vi vùng sản xuất mà đi tiếp vào những hệ thống phân phối lớn hơn.

tít 3

Ở đầu kia của chuỗi sản xuất là thị trường. Với quy mô tiêu dùng và hệ thống phân phối lớn, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh không chỉ là nơi tiếp nhận hàng hóa từ các địa phương. Hai đô thị còn có thể trở thành đầu mối đưa nhu cầu của thị trường ngược trở lại vùng sản xuất.

Kế hoạch số 319/KH-UBND của Hà Nội về cân đối cung - cầu hàng hóa và liên kết vùng năm 2026 dự kiến tổ chức 3-5 đoàn cán bộ, doanh nghiệp đến các địa phương để khảo sát vùng sản xuất, kết nối giao thương, hỗ trợ ký hợp đồng, thỏa thuận ghi nhớ. Các địa phương dự kiến phối hợp có nhiều tỉnh miền núi như Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lâm Đồng, Đắk Lắk. Hà Nội cũng tổ chức hội nghị kết nối nhà phân phối với nguồn hàng địa phương, 5 tuần hàng trái cây, nông sản và hỗ trợ các tỉnh tổ chức 8-10 tuần lễ trái cây, hàng nông sản tại Hà Nội (UBND thành phố Hà Nội).

ảnh 7

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số hoạt động. Thay vì chờ hàng hóa từ vùng sản xuất tìm đến thành phố, doanh nghiệp phân phối có thể đi ngược về vùng nguyên liệu để khảo sát nguồn hàng, khả năng cung ứng và tiến tới hợp đồng.

Ở phía Nam, TP. Hồ Chí Minh đang đặt liên kết vùng trong một cách tiếp cận rộng hơn. Trong chương trình hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với 8 tỉnh, thành phố phía Bắc và Bắc Trung Bộ, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) đề xuất chuyển từ thỏa thuận khung sang chương trình hành động hằng năm; từ xúc tiến theo từng sự kiện sang quản trị danh mục cơ hội, dự án chung; đồng thời xây dựng dữ liệu dùng chung về nhu cầu kết nối và năng lực cung ứng.

ông nhật

 

Theo ông Phạm Quang Nhật, TP. Hồ Chí Minh có thế mạnh về thị trường, tài chính, công nghệ và dịch vụ; các địa phương phát huy lợi thế về sản xuất, hạ tầng, logistics và nguồn nhân lực. Khi những lợi thế này được tổ chức thành chuỗi giá trị và dự án liên vùng cụ thể, lợi thế riêng có thể chuyển thành năng lực cạnh tranh chung.

Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vai trò của những "đầu tàu" thị trường như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh vì thế không chỉ là tạo thêm nơi bán hàng. Từ hệ thống phân phối, các yêu cầu về sản lượng, chất lượng, tiêu chuẩn, quy cách và thời điểm giao hàng có thể được chuyển ngược về vùng sản xuất.

 

ảnh 8

 

Đây cũng là điểm vai trò của ngành Công Thương cần được phát huy rõ hơn. Hạ tầng thương mại và logistics giúp hàng hóa lưu chuyển; xúc tiến thương mại và kết nối cung - cầu đưa vùng sản xuất tới hệ thống phân phối; còn dữ liệu và thông tin thị trường giúp người sản xuất biết thị trường đang cần gì.

Trong giai đoạn tới, vì thế, hiệu quả của liên kết vùng không nằm ở việc có thêm bao nhiêu hoạt động phối hợp. Điều cần hướng tới là vùng nguyên liệu được tổ chức tốt hơn, chế biến và logistics được bố trí phù hợp hơn, thông tin thị trường đến được người sản xuất và các kết nối đi tới giao dịch thực tế.

Liên kết vùng, xét đến cùng, không phải là nối thêm địa phương vào một chương trình, mà là đặt vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, logistics và thị trường vào cùng một dòng chảy hàng hóa. Khi những mắt xích ấy vận hành cùng nhau, không gian phát triển rộng hơn mới có thể chuyển thành không gian thị trường rộng hơn cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

sắp xếp

 

Bài: Hà Đan

Thiết kế: Quốc Duy

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI