[eMagazine] Khai thác sức cầu nội địa: Chuyển hóa tiềm năng thị trường trong nước thành nền tảng bền vững cho hàng Việt
Với sức mua lớn, nhu cầu đa dạng, thị trường nội địa đang mở ra dư địa lớn để hàng Việt nói chung và hàng hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát huy giá trị văn hóa, mở rộng đầu ra và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.

Những năm gần đây, các sản phẩm đặc sản Việt từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã hiện diện nhiều hơn tại các hội chợ, tuần hàng, điểm giới thiệu sản phẩm, hệ thống bán lẻ và các nền tảng thương mại điện tử. Nhiều sản vật được tạo nên từ nguồn nguyên liệu bản địa, mang bản sắc riêng của từng vùng, miền; phù hợp với xu hướng tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc, tính tự nhiên và câu chuyện phía sau sản phẩm.
Tuy nhiên, “có sản phẩm tốt” cũng chưa đồng nghĩa với việc “có thị trường ổn định”. Khoảng cách giữa được người tiêu dùng biết đến và được lựa chọn thường xuyên vẫn phụ thuộc vào khả năng tổ chức nguồn cung, lựa chọn kênh bán hàng, duy trì chất lượng và tạo dựng niềm tin sau lần mua đầu tiên.
Tại Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, khoảng cách này hiện lên khá rõ từ câu chuyện của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng. Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng tập trung phát triển các giống na đặc sản trên vùng núi đá vôi theo hướng xanh, sạch, hữu cơ, phù hợp với xu hướng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn và nguồn gốc sản phẩm.
Theo ông Lê Đức Hải - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng, vào cao điểm thu hoạch, mỗi thành viên Hợp tác xã có thể thu hoạch được 5-7 tạ, thậm chí 1-2 tấn na/ngày. Sản lượng cao cho thấy tiềm năng phát triển hàng hóa của vùng, nhưng đồng thời cũng tạo áp lực khi na chỉ có thể bảo quản trong khoảng một tuần. Khi sản phẩm bước vào vụ thu hoạch đồng loạt, thị trường không còn là câu chuyện tìm được người mua nói chung mà trở thành bài toán về tốc độ thu gom, phân loại, đóng gói, vận chuyển và tiêu thụ.
Trong khi đó, Hợp tác xã chưa có khu vực tập kết tập trung, đầu ra vẫn phụ thuộc nhiều vào thương lái. Hạn chế này khiến việc điều phối sản lượng và chủ động kế hoạch tiêu thụ chưa theo kịp quy mô thu hoạch, nhất là vào thời điểm chính vụ.
Câu chuyện của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng cho thấy, khả năng tổ chức nguồn cung là điều kiện đầu tiên để một sản phẩm đáp ứng được sức mua trong nước. Tuy nhiên, thị trường không chỉ cần hàng hóa được đưa đến đúng nơi, đúng thời điểm; người tiêu dùng còn cần các yếu tố khác để nhận biết, ghi nhớ và lựa chọn sản phẩm giữa nhiều mặt hàng tương tự. Đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giá trị văn hóa và tri thức bản địa chính là nguồn lực có thể tạo nên sự khác biệt đó.

Trên nền tảng bảo đảm năng lực cung ứng, khai thác giá trị văn hóa là bước tiếp theo để nâng tầm giá trị sản phẩm, thay vì chỉ mở rộng đầu ra bằng số lượng. Nếu câu chuyện của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng đặt ra bài toán đưa sản lượng lớn ra thị trường trong thời gian ngắn, thì cách làm của Hợp tác xã Nông sản Phú Lương cho thấy một hướng đi khác, tạo thêm giá trị từ chính bản sắc địa phương.
Thay vì chỉ giới thiệu chè như một mặt hàng nông sản, trong quá trình xây dựng thương hiệu, thiết kế bao bì, truyền thông và quảng bá sản phẩm, Hợp tác xã Nông sản Phú Lương đã lồng ghép các giá trị văn hóa Tày xuyên suốt từ việc lựa chọn hình ảnh người phụ nữ Tày làm điểm nhấn nhận diện đến kể những câu chuyện về vùng đất Hợp Thành, đời sống lao động, hát Then, đàn Tính cũng như các lễ hội truyền thống. Cùng với đó, Hợp tác xã cũng tổ chức cho khách hàng các hoạt động du lịch trải nghiệm như sao chè, thưởng trà trong không gian nhà cổ, qua đó giúp khách hàng, người tiêu dùng hiểu rõ hơn về sản phẩm, văn hóa bản địa và những người nông dân trực tiếp làm ra sản phẩm.
Việc lồng ghép giá trị văn hóa và tri thức bản địa của Hợp tác xã Nông sản Phú Lương đã góp phần giúp sản phẩm tạo dấu ấn rõ nét hơn, tăng khả năng nhận diện và hình thành thêm lý do để người tiêu dùng lựa chọn.
Hai trường hợp của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng và Hợp tác xã Nông sản Phú Lương không phải là những hướng đi tách rời mà phản ánh hai mắt xích của cùng một quá trình tiếp cận thị trường. Sản phẩm trước hết phải có khả năng đáp ứng nhu cầu về nguồn cung và chất lượng; trên nền tảng đó, giá trị văn hóa giúp sản phẩm tạo dấu ấn, nâng cao giá trị và xây dựng quan hệ lâu dài hơn với người tiêu dùng.

Mới đây, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt ra yêu cầu đưa văn hóa phải thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Đối với hàng hóa bản địa, hiện thực hóa định hướng này chính là nhận diện và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành chất lượng, câu chuyện, thương hiệu và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Từ góc độ công tác dân tộc, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho rằng, quá trình phát triển sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải được đặt trên nền tảng văn hóa của cộng đồng, đồng thời bám sảt nhu cầu và khả năng tiếp nhận của thị trường.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, cần chuyển từ tư duy “làm ra sản phẩm rồi mới tìm thị trường” sang “phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhưng trên nền tảng giá trị văn hóa của cộng đồng”. Doanh nghiệp, nhà thiết kế, các đơn vị du lịch và cộng đồng cần tham gia ngay từ khâu lựa chọn giá trị, thiết kế, hoàn thiện sản phẩm đến quảng bá và tiêu thụ. Cần xác định rõ những yếu tố cần phải đáp ứng theo yêu cầu của thị trường, chất lượng, an toàn, trọng lượng, bao bì, truy xuất nguồn gốc và thời gian giao hàng; đồng thời, quá trình hoàn thiện sản phẩm cũng cần phải dựa trên nguyên liệu, kỹ năng thủ công và tri thức bản địa vốn tạo nên nét riêng của cộng đồng.
Cùng với văn hóa, du lịch cũng đang mở rộng không gian tiêu thụ cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong năm 2025, Việt Nam phục vụ 134 triệu lượt khách du lịch nội địa và 22 triệu lượt khách quốc tế, quy mô khách du lịch lớn tạo ra một thị trường tiêu thụ đáng kể đối với thực phẩm, đồ uống, dược liệu, sản phẩm thổ cẩm, thủ công mỹ nghệ, quà tặng và các sản vật đặc trưng của từng vùng miền.
Theo đó, nhiều đặc sản của vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước trở thành một bộ phận trong sản phẩm du lịch. Thông qua các hoạt động tham quan, lưu trú, ẩm thực, mua sắm và trải nghiệm nghề truyền thống, sản vật địa phương đã có thêm nhiều cơ hội tiếp cận trực tiếp với khách hàng, tạo việc làm, khôi phục nghề và mở rộng sinh kế cho người dân tại địa phương.
Tuy nhiên, du lịch mới chỉ tạo ra điểm tiếp xúc ban đầu, muốn chuyển du khách thành khách hàng lâu dài, sản phẩm vẫn phải bảo đảm chất lượng, thuận tiện khi mua và có kênh đặt hàng lại rõ ràng.

Từ góc độ quản lý và phát triển thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện đang phải đối mặt với 5 nút thắt chính, bao gồm: nguồn cung; truy xuất nguồn gốc; khả năng thương mại hóa giá trị văn hóa; logistics; và năng lực tham gia các kênh phân phối.
Những nút thắt này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể, một sản phẩm có bao bì đẹp nhưng chất lượng và sản lượng không ổn định sẽ khó duy trì sự hiện diện trên quầy kệ; sản phẩm có câu chuyện hấp dẫn nhưng thiếu thông tin xác thực cũng sẽ khó tạo dựng được niềm tin lâu dài; tương tự, việc mở gian hàng trực tuyến cũng sẽ không mang lại hiệu quả nếu chủ thể chưa có khả năng quản trị tồn kho, xử lý đơn hàng, thanh toán, giao nhận và chăm sóc khách hàng.
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, hiệu quả phát triển thị trường cũng không nên chỉ được đo bằng số lượng sản phẩm tham gia hội chợ, tuần hàng hoặc đưa lên quầy, kệ trưng bày. “Thước đo cần phải chuyển từ bao nhiêu sản phẩm được trưng bày sang bao nhiêu sản phẩm có khách hàng quay lại tìm mua”, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hóa đối với các sản phẩm đặc trưng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ngày 05/4/2026 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 88/NQ-CP về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, trong đó, xác định phát triển mạnh thị trường nội địa, tăng cường sức mua là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời coi sản xuất trong nước là nền tảng bền vững để cung ứng hàng hóa cho thị trường.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển thị trường cần được thực hiện theo hai chiều, vừa đưa hàng Việt có chất lượng, cá giả phù hợp đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vừa đưa những sản phẩm mang bản sắc và lợi thế riêng của đồng bào đến gần hơn với người tiêu dùng trên cả nước.
Để mở rộng đầu ra bền vững cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần tạo ra 03 chuyển dịch quan trọng: Từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu thị trường; Từ sản xuất theo khả năng sang tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường; từ cạnh tranh chủ yếu bằng giá sang nâng cao giá trị sản phẩm dựa trên chất lượng, nguồn gốc và bản sắc; và từ các hoạt động hỗ trợ riêng lẻ sang sự phối hợp đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị.
Thực hiện đồng bộ những chuyển dịch này sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị bền vững, vừa mở rộng đầu ra cho các sản vật vùng miền, vừa phát huy vai trò của thị trường nội địa như một điểm tựa cho sản xuất trong nước. Khi sức mua được kết nối hiệu quả với sản xuất và lưu thông, các chủ thể sẽ có điều kiện duy trì, mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và củng cố sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Việc đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng cũng sẽ thúc đẩy các chủ thể chuẩn hóa quy trình, đổi mới sản phẩm và nâng cao năng lực xây dựng thương hiệu. Qua đó, các sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ củng cố niềm tin, khẳng định chỗ đứng trên thị trường trong nước mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng vươn tới những thị trường rộng lớn hơn và góp phần nâng cao vị thế, uy tín của hàng Việt.

