[eMagazine] Khánh Hòa: Giữ lửa nghề gốm Chăm, mở hướng phát triển từ di sản
Từ đôi bàn tay của những phụ nữ Chăm, đất và lửa đã tạo nên những sản phẩm gốm mang dấu ấn riêng biệt của làng Bàu Trúc, tỉnh Khánh Hòa. Trải qua hàng trăm năm, nghề gốm không chỉ được cộng đồng gìn giữ như một phần di sản văn hóa, mà đang từng bước trở thành sinh kế, mở ra hướng phát triển mới khi gắn bảo tồn với du lịch, đổi mới mẫu mã và mở rộng thị trường.

Trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa Chăm để lại dấu ấn đặc sắc qua kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, hoa văn, nghề gốm, dệt thổ cẩm… Trải dài ở khu vực duyên hải miền Trung và Nam Bộ, nhiều giá trị văn hóa Chăm được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Trong dòng chảy văn hóa ấy, làng gốm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) là một trong những không gian lưu giữ rõ nét nghề thủ công truyền thống của người Chăm. Theo tư liệu được cộng đồng truyền lại, làng tồn tại từ khoảng cuối thế kỷ XII và được xem là một trong số ít làng gốm cổ ở Đông Nam Á còn lưu giữ kỹ thuật làm gốm thủ công có nguồn gốc lâu đời.

Theo các vị cao niên, tổ nghề của làng gốm Bàu Trúc là thần Po Klaong Can. Truyền thuyết kể rằng, ngài đã dạy người dân trong làng làm gốm và trở thành vị thần được tôn thờ. Hằng năm, lễ hội cúng Tổ nghề được tổ chức vào tháng 1, tháng 4 và tháng 7 lịch Chăm, thể hiện lòng biết ơn của cộng đồng đối với những người đã gìn giữ và phát triển nghề gốm truyền thống.
Điểm đặc biệt của gốm Bàu Trúc nằm ở phương thức tạo tác. Gốm được làm chủ yếu bằng đôi bàn tay của phụ nữ Chăm, không sử dụng bàn xoay và không tráng men. Người thợ đi xung quanh trụ hình tròn, dùng tay xoa, nặn từng khối đất để tạo hình sản phẩm, sau đó điểm tô hoa văn, họa tiết.

Mỗi sản phẩm vì thế mang một diện mạo riêng, khó lặp lại hoàn toàn, phản ánh đời sống, dấu ấn văn hóa và thẩm mỹ của cộng đồng người Chăm.
Nguyên liệu làm gốm được lấy tại khu vực ven sông Quao, cách làng khoảng 1 km. Sau mỗi mùa thu hoạch, người dân đào lớp đất nằm sâu dưới mặt ruộng, làm sạch, đập nhỏ, ngâm nước rồi trộn với cát trắng hạt nhỏ theo tỷ lệ phù hợp. Đất được nhào thật mịn và trữ để sử dụng quanh năm.
Sau khi tạo hình, sản phẩm được phơi tự nhiên rồi nung ngoài trời bằng củi, rơm hoặc vật liệu truyền thống. Nhiệt độ nung khoảng 400 - 800 độ C.
Sự tác động khác nhau của lửa, gió và thời gian tạo nên các sắc độ từ đỏ vàng đến nâu đen, góp phần làm nên vẻ đẹp mộc mạc, độc bản của gốm Bàu Trúc.


Trong bối cảnh thị trường thay đổi, bài toán đặt ra với làng nghề là vừa bảo tồn kỹ thuật truyền thống, vừa tạo ra những sản phẩm phù hợp nhu cầu mới.
Theo ông Phú Hữu Minh Thuần - Giám đốc Hợp tác xã Gốm Chăm Bàu Trúc, giá trị của gốm Bàu Trúc không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở tri thức và kỹ thuật chế tác được cộng đồng gìn giữ qua nhiều đời.
Vì vậy, hợp tác xã không định hướng sản xuất đại trà hay thay thế hoàn toàn kỹ thuật thủ công bằng máy móc, mà tập trung nâng chất lượng, đa dạng công năng, mẫu mã, đồng thời giữ kỹ thuật tạo hình bằng tay, phương pháp nung ngoài trời và hoa văn đặc trưng của người Chăm.
Thực tế những năm gần đây, gốm Bàu Trúc đang được phát triển thêm nhiều dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu trang trí và không gian kiến trúc hiện đại.
“Không còn bó hẹp trong những vật dụng sinh hoạt, gốm Bàu Trúc nay đang phát triển mạnh các dòng sản phẩm gốm trang trí nội, ngoại thất. Dựa trên nhu cầu đặt hàng, chúng tôi đẩy mạnh sản xuất hệ thống đèn gốm nghệ thuật, bình lọ hoa trang trí độc bản và các dòng tượng phù điêu... cho không gian khách sạn, resort trong và ngoài tỉnh”, ông Phú Hữu Minh Thuần - Giám đốc Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc chia sẻ.

Việc đổi mới mẫu mã giúp sản phẩm mở rộng thị trường, đưa giá trị thẩm mỹ và văn hóa Chăm vào nhiều không gian của đời sống hiện đại. Điều đáng chú ý là quá trình này vẫn đặt kỹ thuật thủ công và những giá trị đặc trưng của gốm Bàu Trúc làm nền tảng.

Cùng với phát triển sản phẩm, du lịch đang mở thêm hướng đi cho làng nghề. Việc du khách trực tiếp quan sát, trải nghiệm các công đoạn làm gốm giúp họ hiểu hơn về công sức, thời gian và giá trị văn hóa phía sau mỗi sản phẩm.
Theo ông Thuần, phát triển du lịch đang mở thêm đầu ra cho sản phẩm gốm, đồng thời giúp người làm nghề nhận thấy giá trị của di sản trong đời sống hiện đại. Nguồn thu từ bán sản phẩm, tổ chức trải nghiệm và giới thiệu văn hóa cũng góp phần tạo thêm sinh kế, khuyến khích thế hệ trẻ tiếp tục học và gắn bó với nghề.

Dù có nhiều lợi thế, làng gốm Bàu Trúc vẫn đứng trước không ít thách thức. Lực lượng kế cận chưa ổn định khi người trẻ có thêm nhiều lựa chọn việc làm. Trong khi đó, vùng nguyên liệu và không gian nung gốm có nguy cơ thu hẹp; sản phẩm thủ công phải cạnh tranh với hàng công nghiệp có giá thấp hơn.
Phát triển du lịch cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm sự hài hòa giữa khai thác và bảo tồn. Nếu lượng khách tăng nhanh nhưng thiếu tổ chức, hoạt động du lịch có thể ảnh hưởng đến không gian sinh hoạt của cộng đồng, làm giảm tính chân thực của trải nghiệm làng nghề. Vì vậy, phát triển du lịch cần được tính toán phù hợp với khả năng tiếp nhận của địa phương và đặt mục tiêu bảo tồn giá trị di sản làm nền tảng.

Một dấu mốc quan trọng đối với nghề gốm Bàu Trúc là cuối năm 2022, UNESCO ghi danh “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Việc ghi danh vừa khẳng định giá trị đặc biệt của nghề, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc bảo vệ nghệ nhân, tri thức truyền nghề, vùng nguyên liệu và không gian thực hành.
Từ yêu cầu đó, UBND tỉnh Khánh Hòa đã có Quyết định số 2332/QĐ-UBND ngày 3/12/2025 phê duyệt Đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo với tổng kinh phí thực hiện hơn 205 tỷ đồng.
Mục tiêu đến năm 2026 là đưa di sản “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp. Đến năm 2027, tỉnh Khánh Hòa sẽ xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, đăng ký nhãn hiệu “Gốm Chăm” cho gốm Bàu Trúc, đồng thời hoàn thành quy hoạch bảo vệ không gian văn hóa làng gốm và quy hoạch mô hình du lịch phát triển cộng đồng gắn với làng nghề. Từ năm 2028 đến 2030 và các năm tiếp theo, đề án hướng tới mục tiêu ghi danh nghệ thuật làm gốm của người Chăm là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trong năm 2026, địa phương cũng đặt kế hoạch mở các lớp truyền dạy, tư liệu hóa di sản, củng cố nhà trưng bày, quy hoạch vùng nguyên liệu và nghiên cứu mô hình du lịch cộng đồng gắn với Bàu Trúc, qua đó vừa bảo vệ di sản, vừa tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho cộng đồng thực hành nghề.
Đáng chú ý, tháng 10/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Dự án xây dựng mô hình di sản kết nối gắn với các hành trình du lịch để phát triển cộng đồng các dân tộc thiểu số có di sản tương đồng. Trong đó, mô hình kết nối di sản “Nghề thủ công truyền thống của người Chăm” được xây dựng trong hành trình du lịch di sản Bàu Trúc - Mỹ Nghiệp.


Mô hình này không chỉ tạo điều kiện để du khách tham quan, trải nghiệm các công đoạn thực hành di sản mà còn mở rộng không gian khám phá văn hóa, lịch sử, ẩm thực và nghệ thuật truyền thống của người Chăm. Đồng thời, cộng đồng có thêm cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao năng lực truyền dạy và quảng bá di sản.
Với Bàu Trúc, bảo tồn nghề gốm đang được đặt trong mối liên kết với thị trường, du lịch và sinh kế cộng đồng. Khi người dân tiếp tục có thu nhập từ nghề, lớp trẻ có thêm động lực học và thực hành, những giá trị văn hóa được trao truyền sẽ có điều kiện tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.

