[Emagazine] Kỳ 1: Từ tiết kiệm năng lượng đến bài toán an ninh năng lượng
Tiết kiệm năng lượng không còn chỉ là câu chuyện giảm chi phí hay cắt giảm lượng điện tiêu thụ. Trong giai đoạn phát triển mới, đây là bài toán về an ninh năng lượng, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng xanh. Muốn giải bài toán đó, công nghệ phải đi trước.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Là ngành quản lý các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp và thương mại, Bộ Công Thương đang đứng trước yêu cầu giải quyết đồng thời nhiều bài toán mới: vừa bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao, vừa thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiện đại hóa nền công nghiệp. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ không còn là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành lời giải cho những mục tiêu phát triển mang tính chiến lược.
Theo Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, Bộ Công Thương được giao chủ trì ba bài toán lớn cấp ngành. Trong đó, bài toán đầu tiên là "Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ". Đây là một cách tiếp cận rất khác so với trước đây.
Nếu như nhiều năm trước, tiết kiệm năng lượng chủ yếu được nhìn nhận như một giải pháp giảm chi phí sản xuất hoặc giảm áp lực thiếu điện, thì nay yêu cầu đã mở rộng hơn rất nhiều. Hiệu quả sử dụng năng lượng được đặt trong tổng thể của an ninh năng lượng quốc gia, quá trình chuyển đổi xanh, giảm phát thải, phát triển công nghiệp công nghệ cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nói cách khác, mục tiêu không còn đơn thuần là tiết kiệm được bao nhiêu kWh điện, mà là xây dựng một hệ thống năng lượng hiện đại, thông minh, có khả năng tự tối ưu và thích ứng với những yêu cầu phát triển mới.
Đó cũng là định hướng đang được Bộ Công Thương cụ thể hóa trong các chính sách điều hành gần đây.
Phát biểu tại Hội nghị với các Tập đoàn, Tổng công ty năng lượng, các địa phương về đảm bảo cung ứng điện trong cao điểm mùa khô 2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, trong bối cảnh phụ tải điện tăng trưởng nhanh, bên cạnh việc phát triển nguồn và lưới điện, "sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả là giải pháp trực tiếp giảm áp lực cho hệ thống". Theo Bộ trưởng, nếu chỉ dựa vào các giải pháp phía "cung" sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển, trong khi sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh phụ tải sẽ góp phần giảm áp lực cho hệ thống, đặc biệt trong các khung giờ cao điểm.

Cách tiếp cận của Bộ Công Thương cũng đang có sự thay đổi. Tiết kiệm năng lượng không còn được hiểu đơn thuần là giảm tiêu thụ điện, mà mở rộng sang quản trị nhu cầu năng lượng, khuyến khích doanh nghiệp và người dân sử dụng điện thông minh hơn thông qua điều chỉnh phụ tải (DR), quản lý nhu cầu điện (DSM), phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Trong cách tiếp cận mới đó, công nghệ trở thành nền tảng để quản lý, tối ưu và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, thay vì chỉ cắt giảm lượng điện tiêu thụ.

Sau hơn 15 năm thực hiện Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, cùng ba giai đoạn triển khai Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (VNEEP), Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Theo báo cáo của TS. Đào Hồng Thái - Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam (VECEA) trình bày tại Hội thảo "Kết nối mạng lưới tiết kiệm năng lượng", trong giai đoạn 2019-2025, Chương trình VNEEP3 tiếp tục được triển khai đồng bộ với nhiều nhóm nhiệm vụ từ hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý nhà nước đến hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từng bước được hoàn thiện. Hàng nghìn cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm đã thực hiện kiểm toán năng lượng, xây dựng kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bổ nhiệm người quản lý năng lượng theo quy định. Các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo chuyên gia, phổ biến công nghệ mới cũng được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước.
Tuy nhiên, theo TS. Đào Hồng Thái, phía sau những kết quả đạt được vẫn còn không ít khoảng trống.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thị trường dịch vụ năng lượng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Một khảo sát của VECEA cho thấy, dù cả nước đã hình thành hơn 200 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, số doanh nghiệp hoạt động theo mô hình dịch vụ năng lượng (ESCO) thực sự chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Phần lớn các đơn vị vẫn có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu chuyên gia chất lượng cao và chưa đủ khả năng triển khai các dự án đầu tư theo hình thức chia sẻ lợi ích từ kết quả tiết kiệm năng lượng với doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cơ chế tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng vẫn còn nhiều vướng mắc; việc tiếp cận nguồn vốn xanh, tín dụng ưu đãi chưa thuận lợi; hành lang pháp lý dành riêng cho doanh nghiệp dịch vụ năng lượng chưa hoàn thiện. Không ít doanh nghiệp vẫn xem tiết kiệm năng lượng là khoản chi phí đầu tư, thay vì một khoản đầu tư có khả năng sinh lợi trong dài hạn.
Thực tế này cho thấy, dư địa tiết kiệm năng lượng của Việt Nam vẫn còn rất lớn, nhưng cách tiếp cận truyền thống đang dần bộc lộ những giới hạn.

Nếu trước đây, doanh nghiệp có thể đạt được mức tiết kiệm đáng kể thông qua thay thế thiết bị hoặc cải tiến quy trình sản xuất, thì hiện nay phần lớn các giải pháp "dễ làm" đã được khai thác. Muốn tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, doanh nghiệp buộc phải chuyển từ tư duy đầu tư đơn lẻ sang quản trị toàn bộ hệ thống năng lượng dựa trên dữ liệu và công nghệ.
Đó cũng chính là điểm giao thoa giữa mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả với yêu cầu phát triển khoa học công nghệ mà Nghị quyết 57-NQ/TW và Quyết định 808/QĐ-TTg đang đặt ra.

Nhìn lại giai đoạn đầu của Chương trình VNEEP, đây là thời kỳ tập trung vào thay thế thiết bị hiệu suất thấp bằng thiết bị hiệu suất cao, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao nhận thức sử dụng năng lượng tiết kiệm. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay đang chứng kiến một sự chuyển dịch rõ nét: từ tiết kiệm năng lượng bằng kinh nghiệm đầu tư đơn lẻ sang tối ưu năng lượng bằng công nghệ và dữ liệu.
Trả lời phỏng vấn của Tạp chí Công Thương, ông Nguyễn Đình Hiệp - Chủ tịch VECEA cho biết, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đồng thời cam kết phát thải ròng bằng "O" vào năm 2050, dư địa tiết kiệm năng lượng sẽ không còn đến từ những giải pháp đơn lẻ mà phụ thuộc ngày càng lớn vào việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình sản xuất và sử dụng năng lượng.
Nhiều công nghệ từng được xem là xu hướng của tương lai nay đã bắt đầu hiện diện trong các nhà máy tại Việt Nam. Hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001, các nền tảng quản lý năng lượng thông minh (Energy Management System - EMS), hệ thống quản lý tòa nhà (BMS), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), bản sao số (Digital Twin), động cơ hiệu suất cao, bơm nhiệt (Heat Pump), công nghệ thu hồi nhiệt thải hay các giải pháp lưu trữ năng lượng... đang dần trở thành những công cụ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động sản xuất thay vì chỉ đơn thuần giảm tiêu thụ điện.
Đặc biệt, các công nghệ này không tồn tại độc lập mà đang tạo thành một hệ sinh thái quản trị năng lượng hoàn chỉnh.
Nếu trước đây doanh nghiệp chỉ cần biết lượng điện tiêu thụ hàng tháng thì hiện nay, các hệ thống quản lý năng lượng có thể theo dõi dòng chảy năng lượng theo thời gian thực, phân tích hiệu suất của từng thiết bị, dự báo nhu cầu phụ tải, cảnh báo bất thường và hỗ trợ người quản lý lựa chọn phương án vận hành tối ưu. Khi kết hợp với trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, hệ thống không chỉ phản ánh những gì đang diễn ra mà còn có thể dự báo xu hướng tiêu thụ năng lượng, tối ưu kế hoạch sản xuất và giảm phát thải ngay từ khâu vận hành.
Theo ông Nguyễn Đình Hiệp, đây cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia đang thúc đẩy nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp.

Không chỉ doanh nghiệp, yêu cầu này cũng đang đặt ra đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ năng lượng.
Tại Hội thảo "Kết nối mạng lưới tiết kiệm năng lượng", các chuyên gia cho rằng, để thị trường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả phát triển thực chất hơn trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, chuẩn hóa năng lực của các đơn vị tư vấn, doanh nghiệp ESCO và mở rộng các cơ chế tài chính hỗ trợ đầu tư cho các dự án tiết kiệm năng lượng. Đồng thời, việc phát triển đội ngũ chuyên gia, tăng cường chuyển giao công nghệ và kết nối giữa doanh nghiệp với các tổ chức tư vấn cũng sẽ quyết định khả năng lan tỏa của các công nghệ mới.
Có thể thấy, những yêu cầu đó cũng chính là nền tảng để hình thành một thị trường công nghệ tiết kiệm năng lượng phát triển theo chiều sâu, nơi giá trị không chỉ nằm ở việc bán thiết bị mà ở khả năng cung cấp các giải pháp tổng thể, từ tư vấn, thiết kế, đo lường, tối ưu hóa đến quản trị vận hành dựa trên dữ liệu.
Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng, giai đoạn phát triển tiếp theo của lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sẽ không còn được quyết định bởi việc doanh nghiệp sở hữu bao nhiêu thiết bị hiện đại, mà bởi khả năng kết nối các công nghệ thành một hệ thống quản trị thống nhất, có thể đo lường, phân tích và tối ưu hóa liên tục.

Từ yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng đến mục tiêu phát triển nền công nghiệp xanh và hiện đại, có thể thấy công nghệ đang dần thay đổi cách doanh nghiệp tiếp cận vấn đề sử dụng năng lượng.
Nếu trước đây, doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến việc giảm chi phí điện thì nay bài toán đã mở rộng sang quản trị toàn bộ vòng đời sử dụng năng lượng, giảm phát thải, đáp ứng tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội, quản trị doanh nghiệp), nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong hành trình đó, dữ liệu trở thành "nguyên liệu" mới, còn các nền tảng quản lý năng lượng, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số sẽ là công cụ giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn "nguyên liệu" này.
Và như vậy, Bài toán lớn số 1 của Bộ Công Thương sẽ bắt đầu bằng việc đầu tư tối ưu nguồn điện, hiện đại hóa hệ thống năng lượng từ sản xuất đến sử dụng theo hướng xanh, thông minh và tự chủ. Đó không chỉ là định hướng phát triển của ngành năng lượng mà còn mở ra một không gian mới cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
3. Báo cáo Quy định pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Kết quả thực hiện VNEEP3 giai đoạn 2019-2025. Năng lực đơn vị tư vấn dịch vụ năng lượng (Hội thảo "Kết nối mạng lưới tiết kiệm năng lượng").
Bài: Hồ Nga - Nguyên Hà - Lan Anh - Minh Thủy
Thiết kế: Lan Anh - Duy Kiên

