[eMagazine] Tạo giá trị mới cho sản phẩm chè vùng cao biên giới Sơn Kim 2


Sơn Kim 2 là xã vùng cao, biên giới phía Tây Hà Tĩnh, nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, tiếp giáp CHDCND Lào. Toàn xã hiện có khoảng 1.300 hộ với 5.400 nhân khẩu; hơn 1.000 hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, 96 hộ với 270 nhân khẩu là người dân tộc thiểu số. Cùng với Sơn Kim 1, khu vực này là địa bàn sinh sống của đồng bào Mán Thanh, Thái, Lào Kiều.
Trên vùng đất biên giới này, cây chè đã gắn bó với nhiều thế hệ người dân, từ những diện tích hình thành trong thời kỳ nông trường quốc doanh đến khi hình thành liên kết với doanh nghiệp thu mua nguyên liệu.
Theo ông Cao Kỷ Vị, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Kim 2, toàn xã hiện có khoảng 380 ha chè, sản lượng bình quân 5.000–5.500 tấn chè búp tươi mỗi năm. Khoảng 827 hộ đang liên kết sản xuất với Xí nghiệp Chè Tây Sơn (Công ty CP Chè Hà Tĩnh), chiếm 73% số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp trên địa bàn.
Ảnh: Vietnam.vn
Cây chè là nguồn sinh kế gắn bó lâu dài với nhiều gia đình. Gia đình bà Nguyễn Thị Thúy, thôn Tiền Phong, xã Sơn Kim 2 có thâm niên trồng chè hơn 10 năm, đến nay gia đình bà đã phát triển diện tích trồng chè lên 1 ha. Trước yêu cầu của thị trường, gia đình bà cùng các hộ trồng chè trên địa bàn đang chuyển theo hướng sản xuất an toàn nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu thụ.
Ở thôn Hạ Vàng, gia đình anh Phạm Đình Hương phát triển 2,3 ha chè, cho sản lượng khoảng 50 tấn/năm, doanh thu khoảng 320 triệu đồng/năm và tạo việc làm thường xuyên cho 4-6 lao động.
Lợi thế của Sơn Kim 2 là khoảng 80% diện tích chè nằm trên đất bằng, phần lớn được chuyển đổi từ đất màu nên thuận lợi cho chăm sóc, cơ giới hóa và thu hái. Theo ông Cao Kỷ Vị, diện tích này đạt năng suất bình quân khoảng 22-25 tấn/ha. Những diện tích được đầu tư thâm canh tốt có thể đạt doanh thu 150-180 triệu đồng/ha/năm. Phần diện tích còn lại chủ yếu là chè đồi đã qua nhiều chu kỳ canh tác, đất bạc màu hơn nên năng suất thấp hơn. Giá chè búp tươi hiện dao động 6.500-7.200 đồng/kg tùy chất lượng.

Phần diện tích còn lại chủ yếu là chè đồi đã qua nhiều chu kỳ canh tác, đất bạc màu hơn nên năng suất thấp hơn. Giá chè búp tươi hiện dao động 6.500-7.200 đồng/kg tùy chất lượng; những diện tích đất bằng được đầu tư thâm canh tốt có thể đạt doanh thu khoảng 150-180 triệu đồng/ha/năm.
Mối liên kết sản xuất tại Sơn Kim 2 cũng đã thay đổi theo quá trình phát triển của vùng chè. Theo ông Cao Kỷ Vị, từ mô hình gắn với Tổng đội Thanh niên xung phong trước đây, hiện người dân liên kết trực tiếp với Xí nghiệp Chè Tây Sơn thông qua hợp đồng kinh tế có xác nhận của chính quyền địa phương. Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, xác định địa điểm thu mua, cung cấp giống, hỗ trợ kỹ thuật, phân bón và đốn chè; người dân chăm sóc, thu hái theo quy trình và cung cấp nguyên liệu cho nhà máy.
Có đầu mối thu mua tương đối ổn định giúp người trồng chè giảm áp lực tự tìm đầu ra. Đồng thời, khi nguyên liệu được đưa vào chuỗi chế biến và tiêu thụ, yêu cầu về chất lượng, quy trình chăm sóc và thu hái cũng ngày càng chặt chẽ hơn.
Với hàng trăm hộ cùng tham gia, mô hình liên kết giúp vùng chè Sơn Kim 2 hình thành vùng nguyên liệu tập trung, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ.

Ở Sơn Kim 2, chất lượng chè được phản ánh trực tiếp qua giá thu mua. Chè đạt yêu cầu nguyên liệu có giá khoảng 7.000-7.200 đồng/kg, trong khi chè hái dài, lẫn nhiều cọng và lá già chỉ đạt 6.500-6.800 đồng/kg. Theo ông Cao Kỷ Vị, tiêu chuẩn “1 tôm 3 lá” được ưu tiên vì vừa bảo đảm chất lượng thành phẩm, vừa giảm lượng cọng, lá già phải loại bỏ khi chế biến.
Khi lao động ngày càng khan hiếm, chi phí nhân công tăng, cách thu hoạch chè cũng dần thay đổi. Trước đây, chè chủ yếu được hái thủ công, người hái có thể lựa búp theo yêu cầu về chất lượng. Hiện nay, nhiều hộ chuyển sang sử dụng máy cắt chè để giảm nhu cầu nhân công và rút ngắn thời gian thu hoạch.
Tuy nhiên, chè cắt bằng máy có tỷ lệ cọng cứng và lá già cao hơn, khiến khâu chế biến phải tăng thêm công đoạn phân loại, tách cọng; nhà máy phải đầu tư thêm thiết bị tách cọng để xử lý nguyên liệu.
Thực tế này cho thấy cơ giới hóa khâu thu hoạch mới giải quyết được một phần bài toán lao động; để giữ chất lượng sản phẩm, công nghệ ở khâu chế biến cũng phải thay đổi theo.
Từ yêu cầu nâng chất lượng nguyên liệu, câu chuyện giá trị của chè Sơn Kim 2 tiếp tục ở khâu chế biến và phát triển sản phẩm. Chè Tây Sơn đã được công nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2021 và cấp khu vực phía Bắc năm 2022. Đây là một dấu mốc trong quá trình hoàn thiện, quảng bá sản phẩm chè chế biến của địa phương.
Giai đoạn 2026-2030, Chương trình khuyến công Hà Tĩnh tiếp tục ưu tiên công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; tập trung hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc, đổi mới công nghệ, hoàn thiện quy trình sản xuất, cải tiến bao bì, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và phát triển các kênh bán hàng trực tuyến. Với vùng chè Sơn Kim 2, những định hướng này mở ra dư địa để nâng giá trị ở khâu sau thu hoạch, từ chế biến, hoàn thiện sản phẩm đến tiếp cận thị trường.

Trong một thời gian dài, sản phẩm Chè Tây Sơn cũng như chè Hà Tĩnh chủ yếu hướng tới xuất khẩu, trong khi sản lượng tiêu thụ trong nước còn hạn chế. Thị trường xuất khẩu chính là Pakistan và Afghanistan. Đây là đầu ra quan trọng của vùng nguyên liệu Sơn Kim 2, nhưng việc tập trung vào một số thị trường xuất khẩu cũng khiến hoạt động tiêu thụ chịu tác động khi thị trường và vận tải quốc tế biến động.
Năm 2026, xung đột tại Trung Đông ảnh hưởng đến các tuyến vận tải quốc tế, khiến việc xuất khẩu chè sang Pakistan và Afghanistan gặp khó khăn. Có thời điểm 12 container, tương đương khoảng 300 tấn chè, bị ùn tại cảng, làm tăng chi phí và chậm kế hoạch giao hàng.
Khó khăn ở khâu xuất khẩu đã tác động trực tiếp đến vùng nguyên liệu. Khi chi phí vận tải tăng, doanh nghiệp phải giảm một số điểm cân chè gần vùng sản xuất, khiến một bộ phận người dân phải tự vận chuyển chè búp về nhà máy. Việc phải đưa chè trực tiếp về nhà máy làm phát sinh thêm công và chi phí vận chuyển đối với những hộ trước đây có thể giao nguyên liệu tại các điểm cân gần vùng sản xuất.
Những biến động của thị trường xuất khẩu khiến Công ty CP Chè Hà Tĩnh phải tính đến việc đa dạng hóa đầu ra, bên cạnh việc duy trì các thị trường truyền thống. Bên cạnh chè xuất khẩu, doanh nghiệp đã phát triển các sản phẩm chè chế biến, đóng gói phục vụ thị trường trong nước. Chè Tây Sơn cũng được giới thiệu tại một số chương trình quảng bá, xúc tiến sản phẩm của Hà Tĩnh.
Cùng với định hướng của Chương trình khuyến công Hà Tĩnh giai đoạn 2026-2030 trong hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ, ứng dụng máy móc và nâng cao năng lực chế biến, các hoạt động xúc tiến thương mại cũng mở thêm cơ hội đưa Chè Tây Sơn đến với thị trường trong nước. Với một sản phẩm chủ yếu phục vụ xuất khẩu, việc mở rộng thị trường nội địa càng trở nên cần thiết khi các thị trường truyền thống có gặp khó khăn.
Việc mở rộng thị trường cũng gắn với yêu cầu nâng chất lượng sản phẩm sau chế biến. Kế hoạch phát triển cây công nghiệp chủ lực của Hà Tĩnh đến năm 2030 xác định Hương Sơn tiếp tục là vùng chè lớn nhất tỉnh, với diện tích định hướng tăng từ 695 ha năm 2023 lên 744 ha vào năm 2030. Cùng với nâng chất lượng vùng nguyên liệu, tỉnh đặt yêu cầu ứng dụng khoa học công nghệ trong thu hoạch, chế biến, bảo quản; nâng cấp công nghệ chế biến, xây dựng truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Hướng khai thác thêm giá trị từ vùng chè đã được Sơn Kim 2 tính đến từ nhiều năm trước. Theo ông Cao Kỷ Vị, sau khi đạt chuẩn nông thôn mới năm 2016, từ năm 2017 địa phương bắt đầu định hướng phát triển du lịch trải nghiệm dựa trên vùng chè và cảnh quan sẵn có. Những năm sau đó, vùng chè đã đón các đoàn khách, chuyên gia đến tham quan, tìm hiểu.
Hướng đi này tiếp tục được cụ thể hóa với mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và cây trồng bản địa tại thôn Làng Chè. Mô hình được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lựa chọn là một trong 6 mô hình điểm thuộc Chương trình phát triển du lịch nông thôn giai đoạn 2021-2025. Tháng 3/2025, huyện Hương Sơn phê duyệt mô hình du lịch cộng đồng tại thôn Làng Chè, trong đó cây trồng bản địa được đưa vào sản phẩm du lịch.
Theo đề án, du khách có thể tham gia các hoạt động trải nghiệm trồng, hái chè; các hộ trồng và chế biến chè tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ; doanh nghiệp trồng chè được định hướng phối hợp tổ chức tham quan, trải nghiệm và giới thiệu sản phẩm OCOP. Như vậy, thay vì chỉ tạo ra nguyên liệu cho nhà máy, vùng chè còn có thể trở thành một phần của sản phẩm du lịch, tạo thêm cơ hội để người dân bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ ngay tại địa phương.
Theo ông Cao Kỷ Vị, Sơn Kim 2 còn có lợi thế về cảnh quan núi rừng, khe suối, nguồn nước khoáng nóng và khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Vũ Quang. Tuy nhiên, đề án phát triển du lịch cộng đồng của địa phương hiện vẫn gặp khó do chưa thu hút được nhà đầu tư làm đầu mối kết nối người dân và tổ chức dịch vụ; một số hạng mục cũng phải chờ quá trình hoàn thiện hạ tầng theo quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo.
Du lịch khó trở thành đầu ra cho hàng nghìn tấn chè mỗi năm, nhưng có thể tạo thêm nguồn thu từ trải nghiệm, dịch vụ và bán sản phẩm tại chỗ, qua đó mở thêm một hướng khai thác giá trị từ vùng chè ngoài sản xuất nguyên liệu.

Với khoảng 380 ha chè, 827 hộ liên kết và nhà máy chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cây chè đã trở thành một phần quan trọng trong sản xuất và đời sống của người dân Sơn Kim 2. Từ vùng cao biên giới phía Tây Hà Tĩnh, vùng chè đang từng bước nâng chất lượng sản phẩm, mở rộng đầu ra và tìm thêm những giá trị mới từ chính cảnh quan, đời sống và không gian văn hóa địa phương. Qua đó, cây chè không chỉ tiếp tục giữ vai trò sinh kế mà còn mở thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân nơi biên giới.
Bài: Lộc Minh
Thiết kế: Hoàng Lâm
Đồ họa có sử dụng AI

