Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh doanh thời trang bền vững ở khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam

Bài báo Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh doanh thời trang bền vững ở khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam do Đặng Vũ Khánh An1 *- Đặng Vũ Duy Hưng2 (1Công ty Cổ phần Truyền thông Lê - 2 Trường Đại học Kinh doanh Edinburgh, Đại học Heriot-Watt, Scotland) thực hiện.

Tóm tắt:

Nghiên cứu này đề xuất mô hình kinh doanh trong lĩnh vực thời trang bền vững, tập trung vào việc phát huy nền tảng tri thức bản địa của cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc để thiết lập nguồn cung ứng nguyên liệu vải gai dầu nhuộm chàm. Ứng dụng mô hình Sustainable Business Model - SBM và cách tiếp cận liên ngành (kinh tế - xã hội - văn hóa - môi trường), kết quả của nghiên cứu đóng góp giải pháp để đạt được một số mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals - SDG) của Liên Hợp quốc. Mô hình được kỳ vọng sẽ giúp ngành Thời trang Việt Nam chuyển dịch vai trò từ xưởng dệt may toàn cầu sang định hình hệ sinh thái bản sắc, có đạo đức, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Từ khóa: mô hình kinh doanh, thời trang bền vững, dân tộc thiểu số, mục tiêu phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề

Sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính năm 2025, vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam còn lại là 9 tỉnh, gồm: Tuyên Quang, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn (Nghị quyết số 306/NQ-CP). Khu vực này là nơi sinh sống của khoảng 30 dân tộc thiểu số (DTTS), với số lượng chiếm 63% dân số toàn vùng, trong đó đa số là người dân tộc Tày, Thái, Mường, H’Mông,... [15]. Vị trí địa lý xa xôi, địa hình bị cắt xẻ mạnh mẽ, giao thông không thuận lợi,... chính là các rào cản tự nhiên, làm hạn chế khả năng tiếp cận của người dân với kiến thức khoa học công nghệ và các cơ hội phát triển kinh tế. Sinh kế của cộng đồng này duy trì theo hướng tự cung tự cấp, dựa chủ yếu vào nông nghiệp năng suất thấp mà việc chăn nuôi, trồng trọt dễ bị gián đoạn bởi các yếu tố thiên nhiên: nhẹ thì sương muối, băng giá, nặng thì trượt lở, lũ quét. Có tới 86,2% sản phẩm lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ít có giá trị trao đổi, nguồn thu nhập nghèo nàn, nhưng lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết [15].

Do đó, cộng đồng DTTS nói chung và người H’Mông nói riêng là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước những thay đổi tới từ bên ngoài do sinh kế chủ yếu của họ dựa vào các nguồn lực tự nhiên (đất đai, sinh vật, nguồn nước) - những thứ đang ngày càng bị hạn chế, thu hẹp dần. Trong khi các nguồn lực xã hội nội tại lại không giúp họ tạo ra thu nhập; nguồn lực tài chính như vốn ít, và công cụ - tư liệu sản xuất nghèo nàn, lạc hậu. Bên cạnh đó, cộng đồng này tuy có kỹ năng canh tác và rất giàu kiến thức bản địa, nhưng do trình độ học vấn thấp nên chưa biết ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào chăn nuôi, trồng trọt một cách có hiệu quả. Trong tương lai, nếu tình hình này vẫn tiếp diễn thì đời sống của người DTTS sẽ càng gặp nhiều khó khăn, nhất là trước tác động tiêu cực, khó lường của biến đổi khí hậu cực đoan.

Tại khu vực miền núi phía Bắc, canh tác cây lúa, ngô là hoạt động sản xuất từ lâu đời, mặc dù có giá trị kinh tế không cao nhưng mang ý nghĩa đối với việc đảm bảo an ninh lương thực đối với nhân dân địa phương. Trong khi đó, cây gai dầu có giá trị kinh tế cao, đã được cộng đồng người dân tộc H’Mông trồng và sử dụng làm nguyên liệu dệt vải từ nhiều thế hệ. Vải từ cây gai dầu vốn là sản phẩm gắn liền với văn hóa H’Mông nói riêng và sự sinh tồn của người H’Mông nói chung [18]. Cộng đồng người H’Mông thường sống tụ cư trên những vùng núi cao, địa thế hiểm trở, nên phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng [4]. Họ được biết đến với nghề trồng cây gai dầu, dệt vải, vẽ sáp ong và nhuộm chàm để tự tạo nên những trang phục truyền thống. Cây gai dầu có nhiều ưu điểm: không cần chăm sóc nhưng có tốc độ sinh trưởng nhanh, có thể cho thu hoạch sau khi trồng khoảng 3 - 7 tháng, nhu cầu tiêu thụ nước không lớn và có khả năng kháng sâu bệnh một cách tự nhiên. Hệ rễ của chúng bám sâu vào lòng đất, nên giúp cải tạo cấu trúc đất, có thể giữ nước, hấp thụ kim loại nặng từ đất, giúp thanh lọc khu vực bị ô nhiễm [10] và loài cây này cũng là công cụ chuyển đổi khí CO2 thành sinh khối. Vì vậy, cây gai dầu không chỉ là nguyên liệu cung cấp sợi để giải quyết vấn đề may mặc, mà còn là giải pháp hiệu quả cho vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đối với cây chàm, loài cây này có thể mọc tự nhiên trong rừng, sống bằng nước mưa và không cần thuốc bảo vệ thực vật. Do lợi ích trong cuộc sống nên bà con đưa về trồng trên nương rẫy để tiện chăm sóc. Người H’Mông khai thác cây chàm để phục vụ quá trình nhuộm vải diễn ra khoảng 1 tuần [6], cùng với các nguyên liệu tự nhiên như bột ngô, bột gạo, củ nâu, lá chàm đỏ được sử dụng làm phẩm nhuộm màu cho sợi vải nên rất ít nguy cơ tạo ra chất thải độc hại. Nước thải từ quá trình nhuộm vải có thể tưới trực tiếp cho ruộng vườn; còn bã ngô, bã gạo trở thành thức ăn cho gia súc, gia cầm [4]. Quy trình diễn ra từ khâu nuôi trồng cây chàm (kéo dài khoảng gần 1 năm), cây gai dầu (kéo dài khoảng 3 tháng); đến khâu tách sợi, dệt, nhuộm và hoàn thiện [4]. Tuy nhiên, cây gai dầu và cây chàm mới chỉ được trồng trên quy mô nhỏ, mang tính tự cấp tự túc để phục vụ may mặc cho gia đình.

Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình kinh doanh thời trang bền vững ở khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam là rất cần thiết và có giá trị thực tiễn, giúp đồng bào phát triển kinh tế và sinh kế bền vững cho hiện tại và tương lai.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứ chính trị, pháp lý của nghiên cứu

Trên thế giới, cây gai dầu được quan tâm đặc biệt nhờ hiệu quả kinh tế cao, với khả năng phát triển nhanh, dễ chăm sóc so với một số loại cây nguyên liệu tự nhiên phục vụ ngành dệt may. Thị trường thời trang từ sợi gai dầu toàn cầu được định giá khoảng  2,29 tỷ USD vào năm 2021 và dự kiến đạt 23,02 tỷ USD vào năm 2031. Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề lợi nhuận thu được từ thời trang, cộng đồng dần quan tâm tới 1 khái niệm đã được đề cập từ những năm 1960s - đó là thời trang bền vững - một phần của của phong trào thời trang chậm (slow fashion), được phát triển qua nhiều thập niên, và được sử dụng hoán đổi với thời trang sinh thái (eco fashion), thời trang xanh (green fashion) và thời trang có đạo đức (ethical fashion) [22].

Thời trang bền vững (sustainable fashion) tập trung vào việc thiết kế, sáng tạo và tiếp thị sản phẩm thời trang, đồng thời hướng đến giải quyết tác động tiêu cực của ngành này đối với khí nhà kính, biến đổi khí hậu [27] và tác động xã hội [24]. Sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, giảm sử dụng thuốc trừ sâu, thúc đẩy tái chế và tái chế các bộ sưu tập, đồng thời nhấn mạnh tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng là những khía cạnh chính của thời trang bền vững [20]. Khái niệm thời trang bền vững này được nổi lên vào đầu những năm 1960s khi người tiêu dùng trở nên có ý thức về tác động của việc sản xuất quần áo lên môi trường và yêu cầu ngành công nghiệp này phải có những thay đổi trong quá trình sản xuất [26].

Ngày nay, các thương hiệu toàn cầu tham gia tích cực vào phát triển thời trang bền vững, trong đó nguyên liệu tự nhiên được chú trọng sử dụng. Chẳng hạn, các tập đoàn thời trang sử dụng loại vải gai dầu phải kể đến những tên tuổi lớn trong ngành thời trang như: Stella McCartney, Weekend Max Mara - thương hiệu thời trang cao cấp, sử dụng gai dầu hữu cơ đạt chứng nhận; Nike - thời trang thể thao đòi hỏi nguyên vật liệu bền bỉ và thoáng khí [10]. Trong khi đó, các doanh nghiệp thời trang nhỏ và siêu nhỏ của Việt Nam như: Kilomet109, Hemp Oi, KHAAR, Moriko Saigon,… đang kiến tạo một hệ sinh thái thời trang bền vững đậm bản sắc địa phương - các thương hiệu theo trường phái thời trang chậm “slow fashion”, tập trung vào chất lượng vải, đường may, rập, các thiết kế phi thời gian “timeless” và giảm thiểu rác thải “zero-waste” [7] [8]. Họ rất quan tâm đến loại vải tự nhiên được dệt từ sợi cây gai dầu này.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách của Nhà nước được ban hành đã tạo động lực mới cho mô hình kinh doanh này. Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 29/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ - Chỉ thị về Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) Việt Nam - xác định ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực thuộc ngành công nghiệp văn hóa như thời trang, thủ công mỹ nghệ và thiết kế. Đồng thời, Chỉ thị 30 cũng yêu cầu xây dựng các chính sách hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ CNVH có tiềm năng xuất khẩu, đồng thời khuyến khích xây dựng các không gian sáng tạo và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này, nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khai thác tri thức bản địa một cách hiệu quả và bền vững hơn [5].

Mặt khác, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân cũng tạo ra cú huých đa chiều cho doanh nghiệp. Cụ thể, về mặt tài chính, Nghị quyết 68 tạo điều kiện cho các ưu đãi thuế thúc đẩy chuyển đổi xanh, khuyến khích tín dụng xanh và giảm lãi suất cho các dự án xanh, giúp giảm chi phí đầu tư [2]. Về mặt kỹ thuật và thị trường, Nghị quyết 57 ưu tiên chuyển đổi số và phát triển công nghệ (vật liệu xanh) [1]. Các Nghị quyết này cho phép các nhà sản xuất nguyên liệu thời trang bền vững đầu tư vào công nghệ truy xuất nguồn gốc trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu như Mỹ yêu cầu chứng minh xuất xứ để chịu thuế khoảng 10% đối với hàng hóa xuất xứ 100% nội địa thay vì bị áp thuế lên tới 40% đối với hàng hóa “trung chuyển” [16].

Trong những năm qua, ngành công nghiệp dệt may mang lại những lợi ích kinh tế và xã hội vô cùng to lớn. Năm 2024, Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu dệt may lớn thứ hai thế giới, với kim ngạch xuất khẩu là 44 tỷ USD và đang chiếm khoảng 7% quy mô giao dịch thương mại hàng dệt may thế giới [17]. Tổng số lao động làm việc trong ngành tăng từ gần 1,8 triệu người năm 2012 lên khoảng 3 triệu người năm 2024, trong đó, khoảng 74% lao động là nữ [9]. Tuy nhiên, ngành Thời trang là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất trên toàn cầu, chiếm khoảng 4% tổng lượng phát thải [3].

Tại hội nghị COP 26, Việt Nam cùng với nhiều quốc gia khác đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng ”0” vào năm 2050. Điều này khẳng định việc chuyển đổi xanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn là ưu tiên hàng đầu của mọi chính sách phát triển và là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất đối với các cấp, các ngành và các doanh nghiệp trong đó có ngành dệt may tại Việt Nam [13]. Cam kết của Việt Nam từ COP26 đã gửi tín hiệu tới cộng đồng quốc tế, nhằm mở ra cơ hội khai thông nguồn tài chính cho các dự án ít phát thải và hỗ trợ chuyển giao công nghệ [13] vì quá trình chuyển đổi sang thời trang bền vững thường đòi hỏi đầu tư lớn về công nghệ và tài chính.

Tuy nhiên, theo khuyến nghị của Liên Hợp quốc, sự mở rộng của lĩnh vực thời trang bền vững sẽ giúp Việt Nam hoàn thành các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), để đạt được sự thịnh vượng và công bằng xã hội. Chính vì vậy, nghiên cứu này hướng tới mục tiêu xây dựng mô hình kinh doanh thời trang trên cơ sở cung ứng nguyên liệu sản xuất với sản phẩm cốt lõi là vải gai dầu nhuộm chàm. Mô hình này theo đuổi giải pháp Kinh tế tuần hoàn, nhằm đóng góp một giải pháp để đạt được một số SDGs của Liên Hợp quốc.

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng một số phương pháp định tính, như: tổng hợp, quan sát, đối chiếu, phân tích tài liệu thu thập thông tin thứ cấp từ bài báo khoa học, bài viết đăng tải trên trang chính thống của các cơ quan nhà nước, tạp chí thời trang trong nước. Thông tin từ các tài liệu này được phân tích phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và đối chiếu đặc thù sinh kế của đồng bào DTTS tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là người H’Mông. Dựa trên lý thuyết có sẵn để xây dựng giải pháp thực tiễn, bằng cách ứng dụng giá trị toàn diện của mô hình Sustainable Business Model Canvas do Nancy Bocken và các cộng sự thành lập để mở rộng phạm vi quản trị (Hình 1). Bao gồm các mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường nhằm mô tả cách doanh nghiệp nắm bắt giá trị kinh tế cùng lúc với việc duy trì, tái tạo vốn tự nhiên, xã hội và kinh tế [28].

 

Cách tiếp cận liên ngành văn hóa - xã hội - kinh tế - môi trường và hướng tới Mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc, để đánh giá khách quan và toàn diện những nguyên do và giá trị của việc ứng dụng vật liệu truyền thống vào ngành Thời trang tương lai, từ đó đề xuất sáng kiến kinh doanh thời trang của tương lai.

4. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu xây dựng một mô hình kinh doanh mà trong đó cây gai dầu và cây chàm được quan tâm phát triển trên quy mô phù hợp. Thị trường trọng tâm là các thương hiệu thời trang bền vững nội địa, hướng đến định hướng phát triển các hoạt động kinh tế, nhằm thay thế hoặc bổ trợ cho các sinh kế truyền thống như khuyến khích đồng bào DTTS đang sinh sống tại vùng miền núi phía Bắc khôi phục và phát triển nghề thủ công với kiến thức bản địa, thông qua hình thức xây dựng kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình [15]. Việc ứng dụng thành công mô hình còn giúp người dân có thu nhập ổn định trước tác động của các hiện tượng tự nhiên cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra, gia tăng thu nhập bên cạnh sinh kế truyền thống, tạo động lực duy trì và truyền dạy tri thức truyền thống cho thế hệ sau, vừa bảo tồn và nhân rộng tri thức địa phương, vừa tạo lợi thế cạnh tranh trong thị trường xuất khẩu.

Song song với việc giải quyết các vấn đề mang tính cấp bách của thời đại như nghèo đói, tài nguyên cạn kiệt và biến đổi khí hậu, các SDG cũng cung cấp nền tảng cho sự đổi mới trong kinh doanh [23]. Mô hình kinh doanh bền vững (Sustainable Business Model - SBM) được coi là mô hình kinh doanh lý tưởng tập trung vào việc tạo ra tác động tích cực đến môi trường và xã hội thông qua vai trò của doanh nghiệp [25]. SBM dựa trên các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội của tính bền vững trong việc xác định mục đích của tổ chức, sử dụng 3 yếu tố cốt lõi là con người, lợi nhuận, môi trường để đo lường hiệu suất; xem xét nhu cầu của tất cả các bên liên quan thay vì ưu tiên kỳ vọng của cổ đông; coi thiên nhiên là một bên liên quan và thúc đẩy quản lý môi trường; góc nhìn ở cấp độ hệ thống để lấp đầy khoảng trống thể chế liên quan đến sức khỏe, nghèo đói, giáo dục và môi trường bên cạnh cấp độ công ty [25]. Khác với Business Model Canvas thông thường trong xây dựng kế hoạch kinh doanh nhằm cung cấp thông tin và phân tích thị trường và tìm ra phương án gia tăng lợi nhuận gồm 9 yếu tố xác định khái quát ý tưởng và mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp [1]. Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết mô hình Sustainable Business Model Canvas đề xuất mô hình nhà cung ứng nguyên liệu sản xuất trong thời trang bền vững, theo đuổi giải pháp kinh tế tuần hoàn và hướng tới đạt các Mục tiêu phát triển bền vững.

Mô hình nhấn mạnh 3 đề xuất giá trị cốt lõi (Value Proposition): Lợi nhuận (Profit), Con người (People), Môi trường (Planet). Về lợi nhuận, doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu thời trang bền vững có khả năng truy xuất nguồn gốc minh bạch, thông qua việc tạo ra việc làm chất lượng, bền vững, cải thiện năng suất và hiệu quả chuỗi cung ứng để đáp ứng mục tiêu SDG8 (việc làm tử tế và tăng trưởng kinh tế). Về con người, mô hình này tạo ra sinh kế cho cộng đồng DTTS vùng miền núi phía Bắc bằng cách tạo ra việc làm ổn định và điều kiện làm việc cho cộng đồng nông thôn, vùng sâu vùng xa, giúp cộng đồng yếu thế xây dựng khả năng phục hồi trước biến đổi thiên nhiên, đặc biệt là phụ nữ H’Mông, góp phần thực hiện SDG1 (Xóa đói giảm nghèo) và SDG10 (Giảm bất bình đẳng), đảm bảo thương mại công bằng và trân trọng giá trị thủ công, tạo lợi thế cạnh tranh toàn cầu. Về môi trường, mô hình thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm (SDG 12) bằng cách quản lý nguồn cung ứng vật liệu thân thiện như cây gai dầu và cây chàm (nhu cầu nước thấp, không thuốc trừ sâu, cải tạo đất), giảm thiểu rác thải sản xuất nhờ quy trình nhuộm nguội không hóa chất, và tái sử dụng nước thải cho tưới tiêu, giảm tối đa tác động có hại đến môi trường. Cuối cùng, Mô hình góp phần vào Hành động về khí hậu (SDG 13) thông qua quy trình sản xuất khép kín, giảm phát thải CO2, thanh lọc môi trường với cây trồng có khả năng hấp thụ kim loại từ đất, đồng thời cung cấp sinh kế thay thế phù hợp với địa hình và lối sống bản địa.

Để đạt được 3 trụ cột giá trị đề xuất, cần phải tổ chức các hoạt động và nguồn lực một cách chặt chẽ nhằm tạo lập và cung cấp giá trị (Value Creation & Value Delivery). Các hoạt động chính (Key Activities) tập trung vào quản lý việc trồng cây gai dầu, cây chàm, tiêu chuẩn hóa quy trình nhuộm nguội không hóa chất, và đảm bảo tính truy xuất nguồn gốc minh bạch; nguồn lực chính (Key resources and capabilities) bao gồm vùng canh tác gai dầu và chàm ổn định, tri thức bản địa về kỹ thuật dệt sợi và nhuộm chàm của cộng đồng H’Mông, vốn đầu tư, và ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc. Các bên liên quan chủ chốt (Key stakeholders) của Mô hình là cộng đồng người H’Mông (nguồn lao động và tri thức thủ công), các cơ quan nhà nước (hỗ trợ chính sách), và các tổ chức phi chính phủ/doanh nghiệp xã hội (đảm bảo tính đạo đức).

Về mặt thị trường, xác định phân khúc khách hàng (Customer segments) trọng tâm ban đầu là các thương hiệu thời trang bền vững từ trung đến cao cấp, tuy quy mô nhỏ nhưng phù hợp với sản lượng giai đoạn đầu của mô hình. Xa hơn, mô hình hướng tới các đối tác bán lẻ quốc tế, bởi sản phẩm vải gai dầu nhuộm chàm có thể đáp ứng yêu cầu khắt khe về hàng hoá có đạo đức tại Mỹ, EU. Doanh nghiệp duy trì quan hệ khách hàng (Customer relationships) thông qua hợp tác ổn định với các thương hiệu và truyền thông văn hóa, đạo đức; sử dụng kênh phân phối (Channels) bán buôn, bán lẻ trực tuyến và quảng bá trên mạng xã hội hoặc tại các hội chợ.

Đối với khối giá trị thu về (Value Capture), cấu trúc phân chia thành: chi phí cố định (trả cho lao động, thuê mướn đất sản xuất) và chi phí biến đổi (trả cho nguyên liệu và vận hành, đầu tư nghiên cứu). Doanh thu sẽ được thu về từ bán nguyên liệu là vải gai dầu nhuộm chàm và sản phẩm thủ công đơn giản có giá trị gia tăng như khăn, túi xách, đồng thời mở rộng thêm từ dịch vụ tư vấn sáng tạo thiết kế cho các đối tác.

Mô hình kinh doanh được đề xuất, tận dụng tri thức và nguyên liệu thiên nhiên sẵn có cùng lực lượng lao động địa phương, tạo cơ hội cho ngành thời trang và may mặc tại Việt Nam, hiện thực hóa Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc về Phát triển Bền vững, mà còn đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển của ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030 là “Xanh hóa - Số hóa - Tăng nội lực” [12]. Đường hướng kinh doanh này phù hợp xu thế phát triển kinh tế tuần hoàn và yêu cầu bền vững từ thị trường trong nước và quốc tế, hướng tới định hình một hệ sinh thái thời trang bản sắc và có đạo đức trên thị trường khu vực và thế giới.

5. Kết luận và khuyến nghị

Chuyên luận đã đề xuất mô hình kinh doanh cung ứng nguyên liệu vải gai dầu nhuộm chàm, sản xuất bởi cộng đồng DTTS khu vực miền núi phía Bắc, như một cơ chế thúc đẩy tiến bộ liên ngành về xã hội, văn hóa và kinh tế, đồng thời gắn liền với các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc, khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển dịch từ ngành công nghiệp dệt may theo đơn hàng sang chiến lược trở thành thời trang mang bản sắc địa phương, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu phát triển bền vững.

Việc phát triển kinh doanh có đạo đức trong lĩnh vực thời trang hướng tới phát triển bền vững vừa là đòi hỏi của chính sách, nhưng đồng thời là mong muốn của khách hàng nói chung, bởi theo khảo sát của Cotton Incorporated (Hiệp hội Dệt may Việt Nam), 58% người tiêu dùng toàn cầu xem yếu tố bền vững là tiêu chí quan trọng khi mua sắm quần áo [11]. Hy vọng, trong tương lai gần, sáng kiến kinh doanh này sẽ được triển khai thực tế để kiểm chứng tính khả thi và lấp đầy khoảng trống lý thuyết - thực hành cho chuỗi cung ứng.

Để tối ưu hóa tiềm năng kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của mô hình kinh doanh thời trang bền vững, Nhà nước và các cơ quan quản lý cần triển khai các chính sách hỗ trợ và điều tiết sau:

Một là, hỗ trợ tài chính, thuế và pháp lý cho doanh nghiệp bền vững:

Tích cực triển khai các chính sách ưu đãi về tài chính (tín dụng và miễn/giảm thuế) đối với các doanh nghiệp sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường - trong trường hợp này là gai dầu và chàm. Tận dụng cam kết Net Zero tại COP 26 để thu hút hỗ trợ vốn cho các dự án ít phát thải và hỗ trợ chuyển giao công nghệ. Cần đơn giản hóa và số hóa thủ tục truy xuất nguồn gốc, giúp các doanh nghiệp dễ dàng chứng minh xuất xứ của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu từ thị trường xuất khẩu quốc tế. Áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ, đánh thuế cao hơn đối với các vật liệu và quy trình sản xuất độc hại để thúc đẩy chuyển dịch sang kinh doanh có đạo đức.

Hai là, phát triển hệ sinh thái sáng tạo và công nghệ:

Cần thu hút đầu tư để phát triển các cụm văn hóa kết hợp nhiều lĩnh vực (ví dụ: làng nghề - doanh nghiệp sáng tạo - du lịch) theo tinh thần của Chỉ thị 30/CT-TTg về Phát triển các ngành CNVH; Xây dựng các trung tâm nghiên cứu tại địa phương nhằm hỗ trợ chi phí thuê địa điểm, khuyến khích các áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm thủ công; Đầu tư và ưu tiên phát triển vật liệu xanh và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ba là, nâng cao nhận thức và xây dựng niềm tin thị trường:

Thực hiện các chiến dịch truyền thông và giáo dục về tiêu dùng bền vững trong trường học và trên các nền tảng số để định hướng người tiêu dùng, chi trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm bền vững. Trao quyền cho các Hiệp hội/Tổ chức uy tín hoạt động vì sứ mệnh bền vững để cấp chứng nhận “xanh” cho các doanh nghiệp. Thiết lập và quảng bá các lựa chọn “xanh” (tương tự như Michelin Guide [14] như một thương hiệu để gia tăng sự yên tâm và tin tưởng cho người tiêu dùng đối với các sản phẩm thời trang bền vững của Việt Nam.

Dựa trên một số lý thuyết của kinh tế học, một số nghiên cứu của các học giả trước đây, đặc điểm về tự nhiên và văn hóa của một số tỉnh miền núi phía Bắc và thực tế sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp thời trang Việt Nam, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này nhằm đóng góp một sáng kiến kinh doanh cho doanh nghiệp thời trang bền vững. Trong những nghiên cứu tiếp theo, cần tập trung vào 2 khía cạnh: Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược quảng bá thương hiệu cụ thể nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm bền vững và giải quyết rủi ro thị trường khi người tiêu dùng ngần ngại chi trả mức giá cao cho hàng hóa thủ công có giá trị đạo đức ở thời điểm ban đầu. Thứ hai, nghiên cứu sâu hơn về cây trồng và nguyên liệu bản địa đa dạng hóa nguồn cung, ngoài cây gai dầu và cây chàm, để đảm bảo chất liệu thời trang bền vững không bị phụ thuộc vào một vài loại cây trồng.

Tài liệu trích dẫn Tiếng Việt

  1. Ban Chấp hành trung ương (2025), Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, truy cập tại https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm.
  2. Ban Chấp hành trung ương (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, truy cập tại https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm.
  3. Bảo Huy (2025), Thách thức phát thải và dấu chân carbon khổng lồ đằng sau vẻ hào nhoáng của ngành thời trang, truy cập tại https://vneconomy.vn/thach-thuc-phat-thai-va-dau-chan-carbon-khong-lo-dang-sau-ve-hao-nhoang-cua-nganh-thoi-trang.htm.
  4. Bùi Mai Trinh, Đặng Thu Phương (2022), Vật liệu truyền thống Việt Nam trong thời trang sinh thái - Trường hợp vải gai dầu nhuộm chàm của người H'Mông vùng núi phía Bắc Việt Nam, Tạp chí KH&CN Trường Đại học Hòa Bình, 4.
  5. Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ (2024), Chỉ thị số 30/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, truy cập tại https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=211057.
  6. Dân tộc và Phát triển (2023), Sắc chàm của người Mông ở Sa Pa, truy cập tại https://baodantoc.vn/sac-cham-cua-nguoi-mong-o-sa-pa-1680853321936.htm.
  7. Đặng Thư (2021), Lưu giữ những bản thể văn hóa ở Kilomet109 - Forbes Việt Nam, truy cập tại https://forbes.vn/kilomet109-luu-giu-nhung-ban-the-van-hoa/.
  8. Đinh Quân (2025), Thời trang bền vững: Động lực sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam, truy cập tại https://www.rmit.edu.vn/vi/tin-tuc/tat-ca-tin-tuc/2025/jul/thoi-trang-ben-vung-dong-luc-sang-tao-cua-nen-kinh-te-viet-nam.
  9. Đỗ Lâm (2025), Công nhân ngành Dệt may lương thấp, môi trường làm việc khắc nghiệt, truy cập tại https://laodongdoanthe.vn/bai-1-cong-nhan-nganh-det-may-luong-thap-moi-truong-lam-viec-khac-nghiet-109935.html?gidzl=uyee62AQMcVWtIiT885PPE3RB1ixXLvkzjGl46RSMctoXdiHPDm3EVFHSH0_YGHb_zDr6pVrQK1D9PTHOG.
  10. ELLE (2025), Sự trở lại của vải gai dầu trong thế giới thời trang | ELLE, truy cập tại https://www.elle.vn/the-gioi-thoi-trang/chat-lieu-vai-gai-dau/.
  11. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (2025), Bông: Vật liệu xanh hiện thực hóa thời trang tuần hoàn, truy cập tại http://www.vietnamtextile.org.vn/bong-vat-lieu-xanh-hien-thuc-hoa-thoi-trang-tuan-hoan_p1_1-1_2-1_3-597_4-7513.html.
  12.  Hiệp hội Dệt may Việt Nam (2025), Ngành dệt may Việt Nam hướng tới bứt phá mới, xuất khẩu năm 2025 ước đạt 46 tỷ USD, truy cập tại http://www.vietnamtextile.org.vn/nganh-det-may-viet-nam-huong-toi-but-pha-moi-xuat-khau-nam-2025-uoc-d_p1_1-1_2-1_3-597_4-7519.html.
  13. Hoàng Hà, Văn Toản, Trung Hưng et al. (2021), COP 26 và Dấu Ấn Việt Nam, Nhân Dân. truy cập tại https://nhandan.vn/special/COP26_Vietnam/index.html.
  14. Michelin Guide, MICHELIN Guide Restaurants & Hotels - the official website, truy cập tại https://guide.michelin.com/vn/en.
  15. Nguyễn Thị Ngân (2014), Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc, Khoa học Lao động và Xã hội II (39), 21-28.
  16. Thiện Đình và Ngọc Bích (2025), Thách thức và cơ hội từ chính sách thuế mới của Mỹ đối với hàng hóa của Việt Nam, truy cập tại https://hvctcand.bocongan.gov.vn/nghien-cuu-quoc-te/thach-thuc-va-co-hoi-tu-chinh-sach-thue-moi-cua-my-doi-voi-hang-hoa-cua-viet-nam-7520.
  17. Tuyết Ánh (2025), Đột phá để có chỗ trong nền kinh tế tăng trưởng cao, truy cập tại https://nhandan.vn/dot-pha-de-co-cho-trong-nen-kinh-te-tang-truong-cao-post857176.html.
  18. Vũ Thảo (2023), #ProudlyVietnamese: Sùng Y Dua - Nghệ nhân dệt vải gai dầu truyền thống người Mông Dua, truy cập tại https://www.lofficielvietnam.com/local/proudlyvietnamese-sung-y-dua-nghe-nhan-det-vai-gai-dau-truyen-thong-nguoi-mong-du.

Tài liệu trích dẫn Tiếng Anh

  1. Alexander Osterwalder, Yves Pigneur, Alan và cộng sự (2010), Business model generation: a handbook for visionaries, game changers, and challengers, Wiley, Hoboken, New Jersey.
  2. Claudia E. Henninger, Panayiota J. Alevizou, Caroline J. Oates (2016), What is sustainable fashion?, Journal of Fashion Marketing and Management: An International Journal 20 (4), 400-416.
  3. Jurgita Malinauskaite and Hussam Jouhara (2023), Sustainable Energy Technology, Business Models, and Policies: Theoretical Peripheries and Practical Implications, Elsevier Science.
  4. Lindsey Carey, Marie-Cécile Cervellon (2014), Ethical fashion dimensions: pictorial and auditory depictions through three cultural perspectives, Journal of Fashion Marketing and Management: An International Journal 18 (4), 483-506.
  5. Michael E Porter, Mark R Kramer (2006), Strategy and Society: The Link Between Competitive Advantage and Corporate Social Responsibility, Harvard business review 84 (12), 78-163.
  6. Mizrachi, Meital Peleg, Alon Tal (2022), Sustainable Fashion-Rationale and Policies, Encyclopedia 2 (2), 1154-1167.
  7. Nancy Bocken (2021), Decent Work and Economic Growth, Springer.
  8. Sojin Jung, Byoungho Jin (2014), A theoretical investigation of slow fashion: Sustainable future of the apparel industry, International Journal of Consumer Studies 38 (5), 510-519.
  9. Subhasis Ray, Lipsa Nayak (2023), Marketing Sustainable Fashion: Trends and Future Directions, Sustainability 15 (7), 6202.
  10. Wendy Stubbs, Chris Cocklin (2008), Conceptualizing a "Sustainability Business Model", Organization & Environment 21 (2), 103-127.

Developing a sustainable fashion business model in the mountainous regions of Northern Vietnam

Dang Vu Khanh An1

Dang Vu Duy Hung2

1Le Media Joint Stock Company

2Edinburgh Business School, Heriot-Watt University

Abstract:

The study proposes a sustainable fashion business model that centers on leveraging the indigenous knowledge of ethnic minority communities in Northern Vietnam’s mountainous regions to develop a locally grounded supply of indigo-dyed hemp fabric. Employing the Sustainable Business Model Canvas and an interdisciplinary framework integrating economic, social, cultural, and environmental dimensions, the analysis demonstrates how this model contributes to the achievement of the United Nations Sustainable Development Goals. The findings highlight its potential to create stable livelihoods for ethnic minority communities, reduce inequality by enhancing economic opportunities in remote areas, and promote responsible production alongside environmental stewardship. More broadly, the proposed model offers a pathway for Vietnam’s fashion industry to move beyond its traditional role as a global textile manufacturing hub toward the creation of a distinctive ecosystem rooted in cultural identity, ethical values, and strengthened international competitiveness.

Keywords: business model, sustainable fashion, ethnic minorities, sustainable development goals.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 32 năm 2025]

Tạp chí Công Thương