Phát triển công nghệ chiến lược ngành Cơ khí: Tháo gỡ điểm nghẽn từ nghiên cứu đến ứng dụng

Chiều 9/10/2026, tại Hội nghị khoa học “Phổ biến và tổ chức triển khai phát triển công nghệ chiến lược ngành Công Thương”, TS.Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME), đề xuất 4 nhiệm vụ công nghệ chiến lược và kiến nghị tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

Từ thực tiễn triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, TS.Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) cho rằng, bên cạnh năng lực nghiên cứu, thiết kế và chế tạo, việc phát triển công nghệ chiến lược cần có cơ chế hỗ trợ thử nghiệm, đánh giá và ứng dụng sản phẩm trong thực tế. Trong đó, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ những rào cản, tạo điều kiện đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

Từ định hướng công nghệ chiến lược đến yêu cầu làm chủ công nghệ cơ khí

Triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 2159/QĐ-BCT ngày 04/9/2026 về Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Theo Hồ sơ rút gọn của 22 sản phẩm công nghệ chiến lược ngành Công Thương, Kế hoạch tập trung vào ba bài toán lớn: bảo đảm an ninh năng lượng, tự chủ công nghiệp và hiện đại hóa thương mại, logistics. Tổng thể có 22 sản phẩm công nghệ chiến lược với 76 sản phẩm chi tiết, trong đó bài toán về an ninh năng lượng gồm 9 nhóm sản phẩm, bài toán tự chủ công nghiệp gồm 9 nhóm sản phẩm và bài toán thương mại, logistics gồm 4 nhóm sản phẩm.

Trong các nhóm công nghệ được ưu tiên, robot và tự động hóa, công nghệ số, năng lượng và vật liệu tiên tiến, cùng công nghệ đường sắt có mối liên hệ trực tiếp với năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống của ngành cơ khí.

TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME), đề xuất các nhiệm vụ công nghệ chiến lược và giải pháp tháo gỡ vướng mắc tại Hội nghị khoa học

TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME), đề xuất các nhiệm vụ công nghệ chiến lược và giải pháp tháo gỡ vướng mắc tại Hội nghị khoa học “Phổ biến và tổ chức triển khai phát triển công nghệ chiến lược ngành Công Thương”

Để triển khai các nhiệm vụ này, Phụ lục Kế hoạch ban hành kèm Quyết định số 2159/QĐ-BCT xác định cơ quan quản lý nhà nước chủ trì, doanh nghiệp triển khai và các đơn vị phối hợp đối với từng nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo phân công tại Kế hoạch, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) tham gia phối hợp trong một số nhóm nhiệm vụ liên quan đến robot công nghiệp, tự động hóa sản xuất, thiết bị công nghiệp thông minh, công nghiệp đường sắt và robot logistics.

Cụ thể, ở nhóm robot công nghiệp, Kế hoạch đề cập các sản phẩm như robot hàn, sơn, lắp ráp, bốc xếp, kiểm tra, robot hai tay và robot di động tự hành. NARIME nằm trong nhóm C viện nghiên cứu phối hợp cùng các doanh nghiệp, viện và trường đại học tham gia triển khai.

Đối với công nghiệp đường sắt, Viện cũng được xác định là đơn vị phối hợp nghiên cứu một số sản phẩm, thiết bị liên quan đến hệ thống truyền động, phanh, thiết bị depot, ray, ghi, phụ kiện và toa xe.

Việc phân công cụ thể giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu đặt ra yêu cầu phối hợp trong suốt quá trình phát triển sản phẩm. Đối với các viện nghiên cứu, nhiệm vụ không chỉ dừng ở nghiên cứu công nghệ mà còn hướng tới nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, thử nghiệm và đáp ứng nhu cầu ứng dụng thực tế.

NARIME đề xuất 4 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược

Trải qua 64 năm xây dựng và phát triển, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã tham gia nhiều chương trình, dự án công nghiệp trong các lĩnh vực nhiệt điện, thủy điện, cơ khí thủy công, tự động hóa, xi măng, khai thác và chế biến khoáng sản.

Theo số liệu của NARIME, doanh thu bình quân của Viện đạt khoảng 2.000 tỷ đồng/năm. Viện có khoảng 450 nhân sự, trong đó 320 cán bộ chính thức; đội ngũ chuyên môn gồm hơn 200 kỹ sư, 72 thạc sĩ, 17 tiến sĩ, cùng 13 nghiên cứu viên cao cấp/kỹ sư cao cấp và 44 nghiên cứu viên chính/kỹ sư chính.

Trong giai đoạn 2020–2026, Viện công bố 378 bài báo trong nước và quốc tế, xuất bản 12 sách chuyên khảo, đồng thời có các sáng chế và kết quả sở hữu trí tuệ.

Những hình ảnh tại xưởng sản xuất thực nghiệm, hoàn thiện và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ của NARIME trong lĩnh vực ô tô.
Những hình ảnh tại xưởng sản xuất thực nghiệm, hoàn thiện và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ của NARIME trong lĩnh vực ô tô. Ảnh: NARIME 

Về hạ tầng nghiên cứu, NARIME hiện có 4 phòng thí nghiệm gồm: Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Hàn và Xử lý bề mặt; Phòng thí nghiệm thiết kế, chế tạo và thử nghiệm thiết bị nhà máy nhiệt điện; Phòng thí nghiệm tích hợp công nghệ, thiết bị trong dây chuyền sản xuất công nghiệp và Phòng thí nghiệm VILAS 1031.

Viện cũng đang triển khai Dự án đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế chế tạo và thử nghiệm thiết bị ngành Cơ khí – Tự động hóa theo Quyết định số 3629/QĐ-BCT ngày 15/12/2025 của Bộ Công Thương.

Trên cơ sở năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm triển khai các dự án công nghiệp, NARIME đã đề xuất 4 hướng nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược tại Văn bản số 324/NCCK-KTKHCN ngày 15/9/2026.

Narime đã cung cấp dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn và đồ gá kiểm tra cho nhiều dòng xe điện
Narime đã cung cấp dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn và đồ gá kiểm tra cho nhiều dòng xe điện.
Ảnh: NARIME 

Thứ nhất, làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và tích hợp robot hàn trong dây chuyền sản xuất ô tô. Theo TS.Vũ Văn Khoa, Viện đề xuất nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và tích hợp robot hàn cho các trạm chính của dây chuyền hàn thân vỏ ô tô, với mục tiêu năng suất 36 sản phẩm/giờ. Nhiệm vụ thuộc định hướng nội địa hóa công nghệ, thiết bị, gắn với yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ trong sản xuất công nghiệp ô tô.

Thứ hai, nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thử nghiệm hệ thống cấp điện sức kéo cho đường sắt. Nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, thiết kế, tích hợp và chế tạo thử nghiệm hệ thống cấp điện sức kéo cho đường sắt đô thị và đường sắt liên vùng điện khí hóa. Theo đại diện NARIME, đây là hướng nghiên cứu có sự giao thoa giữa yêu cầu nội địa hóa công nghệ của ngành Công Thương và nhu cầu phát triển hệ thống đường sắt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Xây dựng.

Thứ ba, phát triển giải pháp quản lý, điều hành chuỗi Kho – Vận – Cảng trên nền tảng bản sao số. Nhiệm vụ được đề xuất gắn với mô hình bán thực nghiệm và ứng dụng tại tổ hợp gang thép – cảng biển quy mô lớn. Đây là hướng nghiên cứu liên quan đến bài toán phát triển thương mại và logistics của ngành Công Thương, tập trung ứng dụng công nghệ số vào quản lý, điều hành các hoạt động kho vận và cảng biển.

Thứ tư, nghiên cứu hệ thống chiết tách, thu hồi và tinh chế Gali trong dây chuyền Alumin. Nhiệm vụ hướng tới nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và vận hành thử nghiệm hệ thống thu hồi Gali trong quá trình chế biến bô xít – Alumin, nhằm khai thác thêm sản phẩm có giá trị từ dây chuyền sản xuất. Đáng chú ý, tại Hội nghị, TS.Vũ Văn Khoa cho biết kết quả phân tích mới mà Viện nhận được còn ghi nhận sự hiện diện của Vanadium (Vanadium được sử dụng trong sản xuất thép hợp kim cường độ cao, đặc biệt là chế tạo máy móc, phụ tùng ô tô, pin lưu trữ năng lượng và chất xúc tác hóa học), với hàm lượng cao gấp khoảng ba lần Gali (Gali được sử dụng chủ yếu trong công nghệ bán dẫn, sản xuất chip điện tử, đèn LED, laser; ngoài ra còn ứng dụng trong y học hạt nhân và chế tạo hợp kim đặc thù). Theo thông tin TS.Khoa chia sẻ, giá thị trường của hai kim loại tại thời điểm được đề cập ở mức tương đương. Từ kết quả phân tích ban đầu, Viện đang xem xét khả năng mở rộng hướng nghiên cứu để thu hồi thêm Vanadium trong cùng chuỗi công nghệ.

Dây chuyền cắt dán cao su tự động tại Công ty Cao su Đà Nẵng do Viện Nghiên cứu Cơ khí thiết kế, chế tạo
Dây chuyền cắt dán cao su tự động tại Công ty Cao su Đà Nẵng do Viện Nghiên cứu Cơ khí thiết kế, chế tạo.
Ảnh: NARIME

TS.Vũ Văn Khoa cũng đề cập khả năng hợp tác với các đơn vị trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản, trong đó có Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), để triển khai hướng nghiên cứu này.

4 nhiệm vụ trên là những hướng phát triển công nghệ chiến lược NARIME đã đề xuất để xem xét, tổng hợp. Việc triển khai cụ thể còn phụ thuộc vào quá trình phê duyệt, bố trí nguồn lực và xác định đối tác ứng dụng.

Từ nghiên cứu đến ứng dụng: Rào cản đối với sản phẩm công nghệ trong nước

Bên cạnh các nhiệm vụ đề xuất, TS.Vũ Văn Khoa cũng đề cập những khó khăn trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Theo TS.Khoa, dù hoạt động nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) nhiều năm qua luôn gắn với doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn, việc chế tạo thành công sản phẩm công nghệ mới chưa đồng nghĩa với khả năng đưa sản phẩm vào các dự án công nghiệp.

Dẫn chứng từ quá trình phát triển máy biến áp của Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh - CTCP (EEMC), TS.Khoa cho biết, sản phẩm dù được đánh giá tốt về kết quả nghiên cứu, chế tạo vẫn gặp trở ngại khi tham gia các dự án điện do yêu cầu kỹ thuật từ phía tổng thầu và các đơn vị tài chính. Ban đầu được thiết kế phục vụ nhà máy nhiệt điện đốt than, sản phẩm sau đó mới có cơ hội ứng dụng tại công trình thủy điện Hòa Bình.

Trong khi đó, quá trình chế tạo giàn khoan Tam Đảo 03, với sự hỗ trợ của Vietsovpetro, cho thấy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện để sản phẩm công nghệ trong nước được triển khai và ứng dụng thực tế.

Từ những kinh nghiệm trên, TS.Khoa nhấn mạnh sự cần thiết của cơ chế hỗ trợ thử nghiệm, đánh giá và đưa sản phẩm mới vào sử dụng, nhất là các thiết bị có yêu cầu kỹ thuật cao. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ nguồn lực; các tổ chức nghiên cứu tập trung phát triển, làm chủ công nghệ; doanh nghiệp xác định nhu cầu, phối hợp đầu tư và tạo điều kiện ứng dụng sản phẩm.

Theo NARIME, sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp cần được xây dựng trên cơ sở hợp tác dài hạn, xác định rõ trách nhiệm, nguồn lực, quyền sở hữu kết quả nghiên cứu và cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro ngay từ đầu.

Tháo gỡ rào cản để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất

Bên cạnh các nhiệm vụ công nghệ chiến lược đề xuất triển khai, TS.Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME), cũng chỉ ra những khó khăn trong quá trình đưa sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng thực tế.

Một trong những điểm nghẽn lớn là nguồn kinh phí nghiên cứu chủ yếu mới đáp ứng giai đoạn chế tạo thử nghiệm, chưa bao phủ đầy đủ chi phí kiểm định, đánh giá và hoàn thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế.

Trong khi đó, các sản phẩm công nghệ lần đầu được chế tạo trong nước thường gặp khó khăn khi tiếp cận dự án thực tế do thiếu cơ chế hỗ trợ thử nghiệm và ứng dụng.

Hoạt động nghiên cứu còn vướng mắc trong mua sắm thiết bị, vật tư, hóa chất chuyên ngành do yêu cầu về đấu thầu, quản lý môi trường và sự phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài. Cùng với đó, chế độ đãi ngộ còn hạn chế cũng gây khó khăn trong việc thu hút, giữ chân đội ngũ nhân lực trình độ cao, đặc biệt là các chuyên gia thiết kế trưởng, thiết kế chính.

Từ thực tế trên, đại diện NARIME kiến nghị hoàn thiện cơ chế hỗ trợ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa; tháo gỡ vướng mắc trong mua sắm phục vụ nghiên cứu và có chính sách phù hợp đối với nhân lực khoa học công nghệ. Đồng thời, việc triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược cần gắn với nhu cầu doanh nghiệp, xác định rõ sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng, qua đó tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp trong phát triển công nghệ trong nước.

 

Thúy Mùi