Phát triển công nghiệp Việt Nam: Đột phá trong tư duy, phân “vai”cùng phát triển

Ngày 09/6/2014 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 879/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Theo đánh giá của nhiều chuyê

Vùng “lõi” và vùng “đệm”

PV: Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, Bộ Công Thương là đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035- tiền đề của Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ông có thể phân tích về những đột phá trong tư duy của bản Chiến lược này không, thưa Tiến sĩ?

TS. Dương Đình Giám: Có thể khẳng định chắc chắn rằng, đã có một sự đột phá lớn trong tư duy xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Đó là sự phân loại các vùng phát triển công nghiệp thành hai vùng là vùng “lõi” và vùng “đệm” Trong quá trình CNH, HĐH, ngành công nghiệp ngày càng khẳng định vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Do vậy, nếu một quốc gia chỉ phát triển nông nghiệp không thôi thì không thể trở thành một nước công nghiệp. Xuất phát từ luận điểm này, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, với mục tiêu đầu tư cho các vùng này trở thành các đầu tầu công nghiệp, làm động lực lôi kéo và thúc đẩy các địa phương khác cùng phát triển.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, việc phát triển các vùng kinh tế trọng điểm đã gặp phải một số trở ngại, do việc mở rộng địa giới khá tùy tiện. Một số vùng kinh tế trọng điểm đã thu nhận cả những địa phương hoàn toàn không có hoặc có ít thế mạnh về phát triển công nghiệp, làm cho vai trò“động lực” hay “đầu tầu” của các vùng kinh tế trọng điểm này giảm đi đáng kể. Sở dĩ có hiện tượng này là vì khi được xác định là thuộc vùng kinh tế trọng điểm, thì các địa phương này sẽ được hưởng một sốưu đãi đặc thù (với mục đích ưu tiên để thúc đẩy phát triển), một số địa phương khác cũng muốn được hưởng các ưu đãi này nên đã cố xin để gia nhập “vùng kinh tế trọng điểm”. Và hệ lụy là “Vùng kinh tế trọng điểm” thì cứ phình to ra, nhưng tác động của nó thì dường như nhỏ lại, vì nguồn lực của Nhà nước thì có hạn, lại phải dàn trải ưu tiên cho nhiều đối tượng; trong khi đó vùng kinh tế trọng điểm nhiều khi lại phải “lôi kéo” và “thúc đẩy” cả những thành viên yếu kém trong vùng.

Việc xác định một địa phương là thuộc vùng “lõi” hay vùng “đệm” công nghiệp là nhằm khắc phục tình trạng này, để các địa phương thuộc vùng “lõi” xứng đáng là những “đầu tầu” trong phát triển công nghiệp của quốc gia trong giai đoạn tới.

Theo định hướng, vùng “lõi” công nghiệp sẽ được xác định trên cơ sở 4 vùng kinh tế trọng điểm và một số khu kinh tế ven biển. Như vậy, các địa phương trước kia thuộc vùng kinh tế trọng điểm, nhưng nay có thể không nằm trong vùng “lõi” công nghiệp, và đương nhiên sẽ gia nhập vùng “đệm” công nghiệp.

Không ưu tiên vĩnh viễn, không ưu tiên không phải là cấm

Dự án KCN Nam Đình Vũ

PV: Vậy theo đó, mối quan hệ giữa vùng lõi và vùng đệm sẽ như thế nào, thưa Tiến sĩ? Điều gì được xem là mới mẻ, thay đổi lớn nhất trong tư duy thực hiện chiến lược này?

TS. Dương Đình Giám: Theo định hướng chiến lược, các địa phương thuộc vùng “lõi” sẽ chủ yếu phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên (những ngành này được coi là những ngành công nghiệp trọng điểm của quốc gia) và các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch… theo thế mạnh của riêng mình. Đối với các ngành công nghiệp còn lại, địa phương sẽ lựa chọn để phát triển, nhưng chủ yếu là tìm cách dịch chuyển ra khỏi vùng “lõi”. Việc dịch chuyển các ngành công nghiệp thứ yếu này có thể sang các địa phương lân cận (ngoài vùng “lõi”), nhưng cũng có thể phải tới các địa phương xa hơn, tùy thuộc vào lĩnh vực ngành nghề và sự quan tâm của các địa phương thuộc vùng “đệm”.

Trong khi đó, các địa phương thuộc vùng “đệm” công nghiệp sẽ tiếp nhận sự dịch chuyển các ngành công nghiệp từ vùng “lõi” (như đã nói ở trên) và phát triển công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho vùng “lõi”. Mỗi quan hệ liên kết giữa hai vùng này như thế là đã được hình thành: vùng “lõi” cung cấp thị trường cho vùng “đệm”, ngược lại, vùng “đệm” cung cấp sản phẩm cho vùng “lõi”. Ngoài ra, các địa phương thuộc vùng “đệm”có thể phát triển các ngành, như: khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm, thủy, sản… theo thế mạnh của địa phương mình.

Như tôi đã nói, Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 đã có sự thay đổi đột phá về tư duy, nhưng điều tôi thích thú nhất lại là thay đổi tư duy về sự lựa chọn các ngành, lĩnh vực ưu tiên, ngoài việc lựa chọn có chọn lọc thì chúng ta cần nhớ là không có ưu tiên vĩnh viễn, mà chỉ ưu tiên trong từng giai đoạn. Tức là, sự ưu tiên này sẽ được điều chỉnh theo thời gian, điều kiện, diễn biến của thực tế phát triển.

Cái “hay” thứ hai liên quan đến ưu tiên là mặc dù một ngành nào đó không được chọn là ngành ưu tiên, nhưng không có nghĩa là ngành ấy không phát triển, mà nếu có điều kiện, nó vẫn cứ được phát triển, miễn là sự phát triển đó không ảnh hưởng đến các địa phương khác (tư duy liên kết vùng) và các ngành, lĩnh vực khác.

Đây là kinh nghiệm mà chúng tôi học được từ các chuyên gia nước ngoài. Khi trao đổi với họ về sự khó khăn của cơ quan tư vấn xây dựng chiến lược, khi phải lắng nghe ngành này ngành kia thuyết minh về tầm quan trọng của ngành mình (để được đưa vào danh mục các ngành ưu tiên), các chuyên gia nước ngoài nói: Tại các ông có một tư duy rất lạ là, cứ hiểu ưu tiên thì mới phát triển; thực ra cần phải hiểu là “không ưu tiên không có nghĩa là cấm”. Mỗi địa phương cứ phát triển những gì là thế mạnh, miễn là không làm ảnh hưởng đến các địa phương khác trong một quy hoạch tổng thể chung. Đơn giản vậy thôi.

Cái mới thứ ba là điều chỉnh không gian công nghiệp, không phát triển tràn lan, địa phương nào cũng công nghiệp cả, để tạo động lực tăng trưởng thực sự cho ngành, cho địa phương trọng điểm, chứ không phải giàn đều.

Nước công nghiệp không phải tỉnh nào cũng phát triển công nghiệp.

PV: Thực tế cho thấy rằng, chắc sẽ ít địa phương chịu an phận làm vùng “đệm” vì theo tư duy thông thường, nó thể hiện rằng địa phương đó kém năng động. Vậy thì sẽ phải có một sự đột phá nữa về tư duy đánh giá mức phát triển của từng địa phương, phải không Tiến sĩ?

TS. Dương Đình Giám: Đúng như vậy! Một nước đạt tiêu chí nước công nghiệp hóa, không có nghĩa là địa phương nào cũng phải đạt tiêu chí tỉnh công nghiệp. Vì vậy, điều đầu tiên phải khẳng định là không thể đặt chỉ tiêu phấn đấu và đánh giá đồng đều cho mọi địa phương. Thực tế trong phát triển, mỗi địa phương có một thế mạnh (về công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ), thậm chí trong cùng lĩnh vực công nghiệp, dù có tiềm năng giống nhau, nhưng thế mạnh cũng sẽ khác nhau, vì còn tuỳ thuộc vào nguồn lực (vốn, nhân lực và trình độ quản lý…). Do vậy, nếu địa phương nào cũng phát triển công nghiệp, cũng muốn là trung tâm công nghiệp cả nên thời gian vừa qua mới xuất hiện tình trạng cạnh tranh nhau trong phát triển, thiếu tính liên kết, làm tổn hại tới lợi ích chung của vùng, của quốc gia. Bây giờ, khi đã xác định vị trí (vùng lõi, vùng đệm) rồi thì sẽ không còn tình trạng phát triển vô tổ chức đó nữa. Trong quá trình xây dựng Chiến lược này, chúng tôi đã đưa ra hai kiến nghị.

Trước hết, là phải thay đổi tư duy đánh giá. Phải đánh giá mức độ hoàn thành của các địa phương theo các mức khác nhau và để đánh giá một cách khách quan, phản ánh đúng vị trí và vai trò của từng địa phương trong bản đồ công nghiệp toàn quốc, thì mức tăng trưởng về phát triển công nghiệp của mỗi địa phương ở vùng “lõi” hay vùng “đệm” là hoàn toàn khác nhau. Địa phương ở vùng “đệm” tăng trưởng thấp hơn các địa phương ở vùng “lõi” không có nghĩa là lãnh đạo địa phương đó kém hơn.

Kiến nghị thứ hai là cơ chế hỗ trợ, bùđắp từ những địa phương có điều kiện làm “lõi”, có mức tăng trưởng nhanh hơn, thu lợi nhiều hơn cho các địa phương làm “đệm”. Bản thân những địa phương được phân công làm vùng “đệm” là họ đã chấp nhận thiệt thòi, nhưng vì lợi ích quốc gia, lợi ích vùng nên họ phải “hy sinh” phát triển một số ngành, lĩnh vực để các địa phương khác phát triển. Vì vậy, Trung ương, Nhà nước cần phải có cơ chế chia sẻ lợi ích, nếu không sẽ lại tái diễn việc phát triển tự phát, mỗi địa phương chỉ chạy theo làm những gì có lợi trực tiếp, trước mắt thì sớm muộn, chuyện phá vỡ quy hoạch sẽ lại xảy ra.

Hy vọng, với hai kiến nghị này, nếu được chấp thuận, chúng ta sẽ dần khắc phục được tình trạng phát triển công nghiệp thiếu tổ chức như thời gian vừa qua và công nghiệp Việt Nam sẽ phát triển đúng với kỳ vọng của các cơ quan quản lý.

PV: Xin cảm ơn tiến sĩ!

Hiện nay, Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các địa phương liên quan xác định xem khu vực nào sẽ là vùng công nghiệp “lõi”, khu vực nào sẽ là vùng công nghiệp “đệm” với quan điểm vùng công nghiệp lõi phải trở thành đầu tầu và động lực thật sự cho việc tăng trưởng và phát triển công nghiệp của vùng và cả nước, chứ không phải là số đông. Một vùng kinh tế trọng điểm hiện nay có thể có tới 7, 8 địa phương, nhưng sau này có thể chỉ còn là 3, 4 địa phương trở thành vùng công nghiệp “lõi” thôi.

Tới đây, Bộ Công Thương sẽ đưa ra các tiêu chí để lựa chọn. Các tiêu chí lựa chọn sẽ được xây dựng một cách khoa học và khách quan.