TÓM TẮT
Mỗi nền kinh tế đều yêu cầu phải có một lực lượng sản xuất tương ứng về trình độ, trong đó nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất. Trong bối cảnh hiện nay khi đất nước mở cửa, nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực số để xây dựng nền kinh tế tri thức, kinh tế số… hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới là tất yếu. Trên cơ sở các khái niệm về nguồn nhân lực số, kinh tế số, bài viết trình bày những cơ hội và thách thức và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số ở Việt Nam.
Từ khóa: phát triển, nguồn nhân lực số, chuyển đổi số, cơ hội.
1. Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của quốc gia, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung, nguồn nhân lực số nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Nguồn nhân lực số là lực lượng lao động có khả năng sử dụng, ứng dụng công nghệ số (CNS), dữ liệu và các công cụ kỹ thuật số trong công việc hàng ngày để tạo ra giá trị kinh tế.
Hoạt động chuyển đổi số của nước ta cần nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, hiểu biết và chuyên sâu về công nghệ thông tin (CNTT), khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng các mục tiêu của đất nước. Phát triển, phát huy vai trò nguồn nhân lực số là chìa khóa trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Nền kinh tế số (KTS) của Việt Nam được dự báo sẽ phát triển mạnh mẽ nhưng sẽ khó thành hiện thực nếu không giải được bài toán về nguồn nhân lực số. KTS đòi hỏi phải có nguồn nhân lực số tương thích để triển khai và tổ chức thực hiện.
2. Một số khái niệm
2.1. Nguồn nhân lực số
Theo Phạm Thị Kiên (2022) “Nguồn nhân lực số là nguồn nhân lực trong nền KTS, là lực lượng chủ yếu để triển khai và hiện thực hóa nền KTS, quyết định sự tồn tại của nền KTS, có năng lực làm chủ các thiết bị CNS, vận hành trong quá trình sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của nền kinh tế”. Nguyễn Thành Chung (2023) cho rằng “Nhân lực số là lực lượng lao động kỹ thuật chuyên nghiệp, trực tiếp thực hiện các sản phẩm, dịch vụ CNTT, điện tử viễn thông, an toàn thông tin (ATTT) mạng để phục vụ hoạt động công nghệ số”.
Như vậy, nguồn nhân lực số là nguồn nhân lực có kỹ năng chuyên môn, kiến thức về CNTT, khả năng phân tích dữ liệu, thích ứng nhanh với sự thay đổi và tư duy sáng tạo. Nhân lực số là lực lượng lao động kỹ thuật chuyên nghiệp, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ CNTT, ATTT... được xác định là một trong những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định tới thành công của chuyển đổi số quốc gia.
2.2. Kinh tế số
Theo nhóm cộng tác KTS của Oxford, KTS là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên CNS, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet” (Harbhajan et al., 2005). KTS là khái niệm xuất hiện sau kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp. Khái niệm này được hiểu đơn giản là một nền kinh tế được vận hành chủ yếu dựa trên CNS, đặc biệt đó là các giao dịch điện tử trên internet.
Ở Việt Nam, KTS là hoạt động kinh tế sử dụng CNS và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng CNTT - viễn thông để tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu hóa cấu trúc nền kinh tế (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Nền KTS là nền kinh tế mà các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng CNS, trong đó CNS trên nền tảng phát triển của internet và sự sáng tạo của con người là tài nguyên và nguồn lực chính để vận hành toàn bộ nền kinh tế.
3. Những cơ hội và thách thức trong phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số hiện nay
3.1. Những cơ hội
3.1.1. Tỷ lệ lao động có chuyên môn, kỹ thuật được đào tạo bài bản ngày càng tăng
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ, quý IV/2023 là 27,6%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Năm 2023, lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 14,1 triệu người, chiếm 27,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 20221.

Hình 1: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT, ATTT trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông (TT và TrT): Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.27
Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về CNTT và ATTT ngày càng được bổ sung, phát triển. Giai đoạn 2017-2022, tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chiếm gần 2%; tỷ lệ cán bộ chuyên trách ATTT tăng 0,4% (Hình 1). Đối với cơ quan nhà nước các tỉnh/thành phố, tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT tăng 0,3% giai đoạn 2017-2022 (Hình 2). Hình 1 và Hình 2 cho thấy tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT và ATTT ở các bộ, cơ quan thuộc bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ cao hơn và tăng nhanh hơn ở các cơ quan nhà nước của tỉnh, thành phố.

Hình 2: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT, ATTT trong các cơ quan nhà nước của tỉnh, thành phố
Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.28
3.1.2. Công tác đào tạo nguồn nhân lực số đã có bước chuyển biến tích cực
Công tác đào tạo nguồn nhân lực số đã có bước chuyển biến và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Theo Tổng cục Thống kê, Việt Nam hiện nay có 168 trường đại học và 520 trường nghề có đào tạo về chuyên ngành truyền thông (ICT) và CNTT với tổng số chỉ tiêu tuyển sinh đầu vào khoảng 100 nghìn sinh viên. Tổng số sinh viên tốt nghiệp hằng năm đạt trên 84 nghìn. Trong chương trình đào tạo đại học, sau đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bổ sung 5 mã ngành liên quan đến CNTT và máy tính. Chuyên ngành đào tạo CNTT và máy tính là những ngành có tỷ lệ hồ sơ đầu vào cao (năm 2022 đạt 70.000 hồ sơ, tăng 16% so với năm 2021). Hằng năm, số lượng sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành này là hơn 65.000 (tính cả cao đẳng, trung cấp). Trong cơ cấu lao động nghề nghiệp hiện nay, lao động làm việc trong lĩnh vực CNTT, CNS đạt khoảng 1,5 triệu người2.
Công tác tập huấn nguồn nhân lực số được chú trọng và thực hiện tương đối hệ thống, toàn diện với các hình thức đào tạo đa dạng, phù hợp với từng đối tượng. Năm 2023, Bộ Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 60 khóa học về chuyển đổi số trên nền tảng MOOCS cho 305 nghìn lượt người là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước; tổ chức 20 khóa phổ cập kỹ năng số với 23 triệu lượt người truy cập học; 02 khóa tập huấn cho các thành viên tổ CNS cộng đồng. Công tác tập huấn ở các bộ, ngành, địa phương diễn ra rất tích cực với sự hỗ trợ của Bộ TT và TrT, có 140 nghìn cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã tập huấn về công tác chuyển đổi số (Mạnh Tuyền, 2023).
3.2. Những thách thức
3.2.1. Thiếu hụt nguồn nhân lực số có tay nghề cao, mất cân bằng giữa các lĩnh vực, vùng miền, ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn trong tiếp cận kinh tế số
“Tính đến cuối năm 2023, cả nước vẫn còn 38 triệu lao động chưa qua đào tạo. Con số này cho thấy, thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động”3. Bên cạnh đó, sự mất cân bằng giữa các lĩnh vực, vùng miền; xuất hiện những đối tượng yếu thế ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn trong tiếp cận KTS. Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực số chất lượng cao chủ yếu tập trung ở các đô thị, thành phố lớn nơi có điều kiện về hạ tầng số, thu nhập…, trong khi các vùng miền khó khăn gần như không có hoặc không thu hút được nguồn nhân lực số.
Dân cư Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn. “Các vùng đất rộng có tỷ trọng lao động thấp (vùng Trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,8% lực lượng lao động)”4. Trong khi đó, dân cư tập trung đa số ở những khu vực thành thị. Sự mất cân đối này hạn chế sự phát huy lợi thế về nguồn lao động vùng nông thôn. Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương,… chưa đồng nhất, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội.
3.2.2. Hiệu quả sử dụng và quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Việt Nam còn khá thấp
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng quý IV/2023 của khu vực thành thị là 4,2% (giảm 0,3 điểm so với quý trước) và khu vực nông thôn là 4,3% (tăng 0,2 điểm so với quý trước). Đa số lao động không sử dụng hết tiềm năng là những người từ 15-34 tuổi (49,3%) cao hơn rất nhiều so với tỷ trọng lao động nhóm tuổi này trong lực lượng lao động (33,0%). Điều này cho thấy, Việt Nam vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ5. Hiệu quả công tác sử dụng và quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Việt Nam còn khá thấp, chưa đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực hiện nay (Phạm Thị Kiên, 2020).
Việt Nam xếp hạng thuộc nhóm cuối trong bảng thứ hạng về lao động có chuyên môn cao, thứ 81/100, xếp hạng sau Thái Lan và Philippines trong nhóm các nước ASEAN (ILO, 2020). Có rất ít doanh nghiệp lập kế hoạch nhân lực trong dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn hậu đại dịch Covid-19 và biến động của địa chính trị trên thế giới. “Trong năm 2023, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 89,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 20,7% so với năm 2022; 65,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 28,9%; 18 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 3,1%. Phần lớn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, ngừng hoạt động hay giải thể trong năm 2023 có thời gian hoạt động ngắn, dưới 5 năm, tập trung chủ yếu ở quy mô nhỏ (dưới 10 tỷ đồng)” (Tổng cục Thống kê, 2023).
3.2.3. Chất lượng lao động và năng suất lao động còn thấp, chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp, năng lực ngoại ngữ, tin học, kỷ luật trong lao động, khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc còn hạn chế
Mặc dù Việt Nam có quy mô dân số lớn, lực lượng lao động trong độ tuổi vàng nhưng chất lượng lao động và năng suất lao động còn thấp, chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp, năng lực ngoại ngữ, tin học hạn chế… Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chỉ chiếm hơn 11% tổng lực lượng lao động (Trần Oanh, 2022). Do đó, Việt Nam không thiếu nhân lực lao động nhưng lại khát nhân lực chuyển đổi số. Đây chính là rào cản lớn để nước ta phát triển nền KTS. “Năm 2022, tính trong tổng số hơn 51 triệu lao động, tỷ lệ nhân lực CNTT chỉ ước đạt 1%, rất khiêm tốn so với nhu cầu thực tế về nhân lực số. Báo cáo khảo sát việc làm cho thấy, nhân sự ngành CNTT luôn nằm trong top việc làm được săn tìm nhiều nhất nhưng vẫn không tuyển đủ. Dự báo từ năm 2022 - 2024, Việt Nam vẫn thiếu hụt 150.000 - 195.000 lập trình viên/kỹ sư hằng năm. Khoảng cách này dự kiến còn cao cho đến năm 2024 khi nhu cầu lên tới 800.00 lập trình viên” (Thùy An, 2022). “Thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực CNTT ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, cơ cấu mở rộng, như: nhân lực công nghiệp phần cứng và điện tử, nhân lực công nghiệp phần mềm, nhân lực công nghiệp nội dung số và nhân lực dịch vụ CNTT. Cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực số ở nước ta ngày càng nhiều, song lực lượng lao động cung ứng lại thiếu nghiêm trọng” (Phạm Thị Thùy, 2023).
Trong bối cảnh CNH, HĐH, nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động nước ta còn bộc lộ những mặt hạn chế trong văn hóa nghề nghiệp, đặc biệt là tác phong công nghiệp. Do đó, ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động cũng như khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc còn rất hạn chế, đặc biệt là những rào cản về văn hóa, về ngôn ngữ khi có yếu tố lao động nước ngoài hoặc làm việc ở nước ngoài.
3.2.4. Nguồn nhân lực số còn thiếu chưa đáp ứng về mặt số lượng, đội ngũ về an toàn thông tin hiện cũng chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số quốc gia
Không chỉ thiếu hụt về số lượng mà chất lượng nguồn nhân lực số ở Việt Nam cũng chưa đáp ứng được yêu cầu. Một phần sự thiếu hụt này là xuất phát từ chênh lệch giữa trình độ của nhân lực với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 35% trong số 57.000 sinh viên chuyên ngành IT đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, số còn lại phải đào tạo lại. Điều này phần nào phản ánh chất lượng đào tạo ngành CNTT còn nhiều hạn chế. Hiện nay, số lượng cơ sở đào tạo CNTT ở Việt Nam khá nhiều với 158 trường đại học và 422 trường dạy nghề có đào tạo CNTT nhưng chất lượng lại không đồng đều (TopDev, 2021).
Nhiều trường có quy mô nhỏ, năng lực yếu, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên không đủ cả về số lượng và chất lượng dẫn đến chất lượng đào tạo thấp, sinh viên đào tạo ra không đáp ứng yêu cầu phải đào tạo lại hoặc chuyển nghề, gây lãng phí lớn đến nguồn lực xã hội. Và cũng chưa có nhiều cơ sở đào tạo có đủ năng lực, trang thiết bị, phương pháp đào tạo đạt chuẩn quốc tế, giảng dạy chưa gắn với thực tế, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. “Ở Việt Nam có 68% công việc hiện đòi hỏi kiến thức về kỹ thuật số với những kỹ năng số cơ bản, trong khi đó có 1/5 công việc cần các kỹ năng số đặc biệt chuyên sâu” (Nhật Anh, 2022).
Tỷ lệ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực ATTT còn giảm trong giai đoạn 2020-2022 đối với các cơ quan nhà nước ở tỉnh, thành phố. Năm 2017, có 0,8% cán bộ chuyên trách ATTT, nhưng đến năm 2022, giảm chỉ còn 0,7% (Hình 3). Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, tỷ lệ cán bộ chuyên trách ATTT tăng rất chậm từ năm 2017 đến 2019; từ năm 2019 đến năm 2022, giữ nguyên ở mức 1,8%. Điều đó cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng của nguồn nhân lực ATTT- đây là yếu tố then chốt trong chuyển đổi số.

Hình 3: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách ATTT
Nguồn: Bộ Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.26
Thực tiễn cho thấy, nhân lực CNTT đang trong tình trạng thiếu hụt lớn, báo cáo của TopDev chỉ ra rằng: “Nếu năm 2021, các doanh nghiệp cần 450.000 nhân sự, thì nguồn nhân lực chỉ đáp ứng được 430.000 người. Năm 2022, con số thiếu hụt này lên tới 150.000 nhân sự khi nhu cầu tuyển dụng của thị trường lên đến 530.000 người. Năm 2023, toàn ngành sẽ thiếu hụt khoảng một triệu lao động. Trong đó, doanh nghiệp IT - Phần mềm thuộc nhóm có tỷ lệ thiếu nhiều nhất. Nhân sự CNTT luôn nằm trong top ba vị trí được săn tìm trong thời gian gần đây”.
3.2.5. Kỹ năng của nguồn nhân lực số còn hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng thích ứng và làm chủ các công nghệ đặc trưng của chuyển đổi số
Diễn đàn Kinh tế thế giới xem tiêu chí kỹ năng số là một trụ cột quan trọng trong đánh giá kỹ năng của người lao động. Kết quả Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu cho thấy, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam là nước có điểm về kỹ năng số ở mức thấp, chỉ cao hơn Campuchia (Hình 4).

Hình 4: Điểm kỹ năng số của lực lượng lao động tại một số nước châu Á - Thái Bình Dương
Nguồn: World Economic Forum: The Global Competitiveness Report, 2019
Theo báo cáo của Cisco năm 2019 về mức độ sẵn sàng về kỹ năng số của các quốc gia trên thế giới, điểm số trung bình của Việt Nam là 12,06 (Bùi Thị Hồng Hà, 2023). Việt Nam nằm trong nhóm tăng tốc với ý nghĩa là lực lượng lao động có khả năng cải thiện mức độ sẵn sàng số và tạo ra công nghệ mới. Tuy nhiên, các chỉ số thành phần như chỉ số vốn con người (0,86), khả năng áp dụng công nghệ (0,98) cho thấy lực lượng lao động Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các quốc gia khác trong khu vực.
Thứ hạng về kỹ năng số của lao động Việt Nam cũng đang ở mức thấp, đứng thứ 97 trên thế giới, chỉ đứng trên Campuchia so với các quốc gia trong khu vực (Hình 5). Theo đó, kỹ năng số của lực lượng lao động Việt Nam, chỉ đứng trước Campuchia, còn đứng sau các nước (từ thấp đến cao) Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Brunei, Philippines, Malaysia, Singapore.

Hình 5: Thứ hạng về kỹ năng số của lực lượng lao động Việt Nam năm 2022
Nguồn: World Economic Forum: The Global Competitiveness Report, 2019
Như vậy, còn rất nhiều lao động hoạt động trong môi trường số thiếu các kỹ năng về CNTT; trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của công việc; một số cơ quan phải đào tạo lại mới có thể sử dụng được nguồn nhân lực này. Qua các phân tích trên cho thấy, nếu xu hướng chuyển đổi số là tất yếu thì việc phát triển về số lượng lẫn chất lượng và phát huy vai trò nguồn nhân lực số là cực kỳ quan trọng và cần thiết.
4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số hiện nay
4.1. Tiếp tục tăng cường quản lý kinh tế số gắn với việc đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, khung pháp lý liên quan đến phát triển nền kinh tế số, nhân lực số
Đẩy nhanh hoạt động chuyển đổi số quốc gia với các yếu tố trọng tâm: chính phủ số, KTS, xã hội số, xây dựng chính phủ điện tử trên nền tảng công nghệ hiện đại, để người dân từng bước thích nghi với xã hội số và KTS; Có định hướng chiến lược dài hạn cho việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số cùng với các chính sách hỗ trợ cả về tài chính, công nghệ… để các cơ sở đào tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình; Nâng cao nhận thức chuyển đổi số cho cán bộ lãnh đạo các cơ quan nhà nước.
Chính phủ tích cực xây dựng và sớm hoàn thiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ số, bao gồm hạ tầng cứng và mạng lưới viễn thông làm nền tảng để tạo ra hạ tầng mềm là dịch vụ số giúp tối ưu các hoạt động của nền kinh tế; đẩy mạnh hơn nữa tốc độ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và tri thức mở.
4.2. Phát triển nguồn nhân lực số phải bảo đảm cả về số lượng lẫn chất lượng, tiến tới phổ cập kỹ năng số cho lao động bảo đảm tiếp cận công nghệ cho mọi người
Việt Nam đang theo đuổi mục tiêu phát triển KTS. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu cơ bản đến năm 2025: tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử đạt trên 80%; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 50%; tỷ lệ nhân lực lao động KTS trong lực lượng lao động đạt trên 2%. Mục tiêu cơ bản đến năm 2030: tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng nền tảng hợp đồng điện tử đạt 100%; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 70%; tỷ lệ nhân lực lao động KTS trong lực lượng lao động đạt trên 3% (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 60 khóa học về chuyển đổi số trên nền tảng MOOCS cho 305 nghìn lượt người là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước; tổ chức 20 khóa phổ cập kỹ năng số với 23 triệu lượt người truy cập học; 02 khóa tập huấn cho các thành viên tổ CNS cộng đồng. Công tác tập huấn ở các bộ, ngành, địa phương diễn ra rất tích cực với sự hỗ trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông, có 140 nghìn cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã tập huấn về công tác chuyển đổi số (Mạnh Tuyền, 2023). Phổ cập kỹ năng số cho lao động, đặc biệt là lao động phổ thông và khu vực nông thôn.
4.3. Các doanh nghiệp cần chuyển đổi số trong hoạt động để phù hợp với định hướng phát triển chung của nền kinh tế
Thiết lập bộ máy nhân sự thích ứng với công nghệ cao, đặc biệt là cấp quản lý. Đẩy mạnh việc sử dụng phần mềm quản lý nhân sự để điều hành và phân công công việc nhằm tránh chồng chéo và giúp cho nhà quản lý kiểm soát và phân công nhiệm vụ một cách đơn giản, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả. Phần mềm phát triển nguồn nhân lực số mang đến những giải pháp quản lý toàn diện cho doanh nghiệp, giúp quy trình quản lý nhân sự trở nên dễ dàng và hiệu quả cao, tiết giảm chi phí.
Quá trình thực hiện số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Do vậy, cần ủng hộ, khuyến khích các mô hình kinh doanh mới, các công nghệ mới làm thay đổi căn bản các ngành và thúc đẩy sự sáng tạo. Dưới góc nhìn KTS, doanh nghiệp là khâu đột phá, do vậy doanh nghiệp cần tập trung vào chuyển đổi số để trở thành doanh nghiệp số; Chính phủ tập trung xây dựng môi trường pháp lý cho phép các mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ mới, sáng tạo, đồng thời tạo không gian thử nghiệm đi đôi với hỗ trợ doanh nghiệp để phát triển nền KTS.
4.4. Các cơ sở đào tạo lĩnh vực kinh tế cần đổi mới chương trình, nội dung theo hướng kỹ năng ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cho sinh viên
Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao trình độ giảng viên để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Cần cung cấp thông tin về KTS, quản trị nguồn nhân lực số, phát triển nhân lực số để người học làm quen, thay đổi nhận thức và tự thân thay đổi để đáp ứng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ. Xây dựng hệ thống học liệu số, thư viện số giúp phát huy khả năng tự học, tiếp cận thông tin tri thức của người học, người nghiên cứu.
Nghiên cứu thay đổi nội dung, phương pháp đào tạo nhằm xây dựng nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ mới. Xây dựng hệ sinh thái với sự liên kết, chuyển giao ba bên giữa doanh nghiệp, nhà trường và người học nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật, công nghệ cũng như đáp ứng nhu cầu học tập và cập nhật công nghệ. Các chương trình giáo dục cần rà soát thường xuyên để cập nhật những công nghệ mới nhất. Khẩn trương triển khai xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai thí điểm mô hình “Giáo dục đại học số” tại một số trường đại học phù hợp.
4.5. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực số toàn diện và chú trọng phát triển nguồn nhân lực số ở các cấp bậc, trình độ khác nhau nhằm đáp ứng với nhu cầu nhân lực số của từng thời kỳ
Việc đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực số trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương cũng cần phải phù hợp với điều kiện của từng nơi. Có chính sách thu hút lao động CNTT bằng các cơ chế đãi ngộ về mức lương, ưu đãi thuế thu nhập cá nhân; thu hút chuyên gia CNS là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài về làm việc. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực số. Thiết lập các mạng lưới toàn cầu kết nối với công nghệ thế giới bằng cách nhập khẩu công nghệ cao, mời các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy, tiến hành các hoạt động liên doanh đào tạo và nghiên cứu, phát triển.
5. Kết luận
Chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế. Trong quá trình đó, nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm, quyết định sự thành công hay thất bại của tiến trình số hóa. Cần nắm những cơ hội và những thách thức để phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số ở nước ta. Qua đó, triển khai đồng bộ các giải pháp thiết thực, từ đào tạo kỹ năng số theo nhóm đối tượng, chuẩn hóa khung năng lực, đến phát triển đội ngũ cán bộ số cơ sở và tăng cường hợp tác. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số không chỉ giúp tận dụng tốt cơ hội chuyển đổi số, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại mới.
Tài liệu trích dẫn và tham khảo:
(1), (2), (3), (4), (5). Tổng cục Thống kê: Tình hình thị trường lao động và việc làm Việt Nam năm 2023, truy cập tại https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2024/01/tinh-hinh-thi-truong-lao-dong-viet-nam-nam-2023.
Bùi Thị Hồng Hà (2023). “Kỹ năng số của lực lượng lao động: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 11(191).
Phạm Thị Kiên (2020). Nguồn nhân lực số trong doanh nghiệp. Truy cập tại https://doanhnhansaigon.vn/nguon-nhan-luc-so-trong-doanh-nghiep-203600.html.
Phạm Thị Kiên (2022). Phát triển nguồn nhân lực số trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Truy cập tại https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/825659/phat-trien-nguon-nhan-luc-so-trong-cac-doanh-nghiep-viet-nam-hien-nay.aspx.
Phạm Thị Thùy (2023). Phát triển nguồn nhân lực số trong chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Truy cập tại https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/08/04/phat-trien-nguon-nhan-luc-so-trong-chuyen-doi-so-o-viet-nam-hien-nay/.
Nguyễn Thành Chung (2023). Vai trò của nguồn nhân lực số trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Thông tin và Truyền thông, số 7 (tháng 7).
ILO (2020). Nền kinh tế mở thay đổi hình thức, phân phối, chất lượng việc làm Việt Nam. Truy cập tại https://www.ilo.org.
Mạnh Tuyền (2023). Kết quả Chuyển đổi số quốc gia năm 2023. Truy cập tại http://caicachhanhchinh.gov.vn/tin-tuc/ket-qua-chuyen-doi-so-quoc-gia-nam-2023.
Nhật Anh (2022). Xu hướng thị trường lao động trong kỷ nguyên số. Truy cập tại https://nhandan.vn/xu-huong-thi-truong-lao-dong-trong-ky-nguyen-so-post723709.html.
Tổng cục Thống kê (2023). Bức tranh về tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2023 và dự báo xu hướng doanh nghiệp trong năm 2024.
TopDev (2021). Báo cáo về thị trường IT Việt Nam năm 2021: Chuyển mình vào cuộc cạnh tranh tri thức toàn cầu. Truy cập tại https://topdev.vn/TopDev_VietnamITMarketReport_DRS_2021.pdf.
Trần Oanh (2022). Chuyển đổi số: Việt Nam sẽ phải chịu sức ép về giải quyết việc làm?. Truy cập tại https://kinhtedothi.vn/chuyen-doi-so-viet-nam-se-phai-chiu-suc-ep-ve-giai-quyet-viec-lam.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển KTS và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thùy An (2022). Tận dụng hiệu quả công nghệ để phát triển nguồn nhân lực số. Truy cập tại https://vtv.vn/cong-nghe/tan-dung-hieu-qua-cong-nghe-de-phat-trien-nguon-nhan-luc-so-20221222120458516.htm.
Harbhajan S. Kehal, Varinder P. Singh (2005). Digital Economy Impacts and Influences and Challenges, Idea Group.
World Economic Forum (2019). The Global Competitiveness Report.
Developing digital human capital in Vietnam’s digital transformation: Opportunities and challenges
Master. Nguyen Thi Thanh Huyen
University of Finance and Marketing
Abstract:
Every economy requires a workforce commensurate with its level of development, with human resources playing a central and decisive role. In the context of deep international integration and national openness, the development of digital human resources has become an inevitable requirement for building a knowledge-based and digital economy that is fully integrated into the global economic system. Drawing on theoretical foundations related to digital human resources and the digital economy, this study examines the key opportunities and challenges facing Vietnam in the digital transformation era.
Keywords: development, digital human resources, digital transformation, opportunities.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 32 năm 2025]
