Xu thế "hướng nội", chuyển hướng chiến lược kinh doanh tập trung vào TTNĐ, thay cho chủ trương toàn cầu hóa hiện nay cũng đang xuất hiện ở nhiều nước, như Trung Quốc hay Mỹ,…
Mặc dù ý thức được vai trò quan trọng của TTNĐ bên cạnh thị trường xuất khẩu, nhưng để chiếm lĩnh TTNĐ trước sự xâm nhập ồ ạt của hàng hoá nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là vấn đề rất khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước, bởi lẽ, việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mới, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng có chất lượng cao nhưng giá thành hạ và tổ chức hệ thống phân phối tốt không phải là công việc được giải quyết chỉ trong một vài năm, đặc biệt là thời gian vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung vào sản xuất gia công hàng xuất khẩu; hệ thống phân phối hàng hoá còn hết sức thô sơ, chủ yếu theo hình thức truyền thống.
Làm thế nào để các doanh nghiệp của ta khẳng định được vị thế trên sân nhà trong quá trình hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế, chiếm lĩnh được TTNĐ là vấn đề được Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cũng như cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hết sức quan tâm. Mục đích của bài viết này là nhằm góp phần tìm giải pháp trả lời câu hỏi đó.
Một số cam kết quan trọng khi gia nhập WTO liên quan đến TTNĐ
Để xây dựng chiến lược phát triển TTNĐ, trước hết chúng ta cần nghiên cứu và phân tích kỹ những cam kết mở cửa dịch vụ phân phối mà nước ta đã cam kết khi gia nhập WTO. Việt Nam đã cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối, như: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ nhượng quyền thương mại; theo đó một nhà phân phối được phép sử dụng một hình thức bán lẻ hoặc một thương hiệu nhất định. Kể từ ngày 01/01/2009, nước ta đã cho phép lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra, từ ngày 11/01/2007, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ nhượng quyền thương mại.
Tuy nhiên, Việt Nam hạn chế khả năng mở thêm điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT).
Các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài muốn lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất sẽ được các cơ quan quản lý xem xét theo nhu cầu kinh tế.
Về diện mặt hàng, Việt Nam mở cửa các dịch vụ phân phối cho tất cả các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, trừ các mặt hàng sau đây: Thuốc lá và xì gà; Sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình; Kim loại quý và đá quý; Dược phẩm; Thuốc nổ; Dầu thô và dầu đã qua chế biến; Gạo, đường mía và đường củ cải. Đối với các sản phẩm trên, Việt Nam có thể dành quyền phân phối cho các doanh nghiệp trong nước.
Đối với các sản phẩm mà Việt Nam đã cam kết mở cửa, các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài được quyền phân phối tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, kể từ ngày 11/01/2010. Nước ta cũng cho phép việc bán hàng qua mạng từ nước ngoài vào Việt Nam. Việc phân phối qua phương thức này có thể được thực hiện dưới dạng mua, bán hàng hóa qua mạng hoặc đặt hàng qua thư. Theo phương thức này, nước ta chỉ cho phép các nhà phân phối nước ngoài được bán các loại hàng hoá sau: Các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân; Các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc vì mục đích thương mại. Đối với các sản phẩm khác, việc bán hàng qua mạng sẽ tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
Thị trường nội địa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Ngày nay, nền kinh tế thế giới đã đạt đến một mức độ hội nhập cao, TTNĐ ở các nước nói chung, nước ta nói riêng, thực tế chỉ là một sự nối dài của thị trường quốc tế và ngược lại, cũng có thể xem thị trường quốc tế là sự nối dài của thị trường trong nước. TTNĐ ở nước ta hiện nay không chỉ bao gồm các sản phẩm sản xuất trong nước, mà còn gồm vô số các sản phẩm nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam không chỉ có vốn của người Việt Nam mà còn có vốn của người nước ngoài.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, những đặc quyền, những phân biệt đối xử quốc gia đang dần dần được dỡ bỏ, tuy sự dỡ bỏ sẽ không dễ dàng vì sự mâu thuẫn lợi ích kinh tế Bắc - Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay lan rộng không từ một quốc gia nào, có thể làm suy thoái kinh tế trong nhiều năm, sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp, nhiều chính phủ mất niềm tin vào thị trường tài chính và thương mại thế giới, nhưng nó cũng không thể làm cho xu thế toàn cầu hóa kinh tế bị đảo chiều. Trong toàn cầu hoá kinh tế thì toàn cầu hoá thương mại là diễn ra mạnh nhất và quyết liệt nhất. Điều đó ngầm ý là muốn phát triển TTNĐ hiệu quả và bền vững thì không được tách rời nó với thị trường quốc tế.
Năm 2009 là thời điểm Việt Nam thực hiện việc tự do hóa thương mại nội vùng ASEAN và mở cửa thị trường bán lẻ trong nước theo lộ trình WTO. Thực tế, độ hội nhập thương mại của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới rất cao, tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP trong những năm gần đây luôn vào khoảng trên 160%. Với việc bãi bỏ thuế nhập khẩu vào đầu năm 2009, hàng hóa từ các nước trong khu vực ASEAN đang tràn vào Việt Nam. Thêm vào đó, một số lượng lớn hàng Trung Quốc, không xuất sang được các nước khác đang tấn công thị trường Việt Nam với mức giá rẻ mạt.
Thực trạng phát triển TTNĐ Việt Nam
Theo số liệu thống kê năm 2009 thì bình quân mỗi người dân Việt Nam đã chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ khoản tiền là 438.000 đồng/năm. Năm 2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 1.565.189 tỷ đồng, tăng 28,87% so với năm 2009; còn tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2011 ước đạt 2.004.361 tỷ đồng, tăng 24,18% so với năm 2010 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng chỉ 4,7%). Điều đó cho thấy niềm tin và nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam có rất nhiều triển vọng, nhưng so với quy mô dân số trên 86 triệu người thì mức chi như trên vẫn còn khá khiêm tốn, tiềm năng của TTNĐ cho doanh nghiệp còn rất lớn. Sự tăng trưởng của TTNĐ mấy năm qua chủ yếu dựa vào sự tăng trưởng chi tiêu của người tiêu dùng đô thị, trong khi thị trường nông thôn chiếm đến 70% dân số cả nước với quy mô tiêu dùng cao gấp 3 lần so với thành thị, nhưng đến thời điểm này vẫn chưa được khai thác triệt để.
Về hệ thống phân phối: Mặc dù các hình thức phân phối hàng hoá và dịch vụ ở nước ta đang dần thay đổi (năm 1995, Việt Nam chỉ có 10 siêu thị và hai trung tâm thương mại; đến năm 2007 đã có ít nhất 140 siêu thị, 20 trung tâm thương mại; đến năm 2011 có khoảng 638 siêu thị, 117 trung tâm thương mại cùng với khoảng 8.653 chợ các loại). Mặc dù trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh về số lượng đối với loại hình phân phối hiện đại, nhưng trên thực tế, nếu xét trên tổng thể thị trường có thể nói, hệ thống phân phối hàng hoá ở nước ta vẫn còn rất thô sơ. Hình thức kinh doanh truyền thống vẫn đang là nền tảng của thị trường kinh doanh bán lẻ ở nước ta, với 90% hàng hóa được lưu thông tại các chợ truyền thống và những cửa hàng mặt tiền. Doanh số bán hàng theo mô hình hiện đại hiện chiếm chưa đến 30% so với các chợ truyền thống. Với cách tổ chức thị trường manh mún và rời rạc như hiện nay, thị trường rất dễ bị tổn thương khi có những biến động và kiểm soát thị trường là rất khó. Cơn sốt giá gạo xảy ra năm 2008 có nguyên nhân chính là do mạng lưới phân phối trong nước yếu kém, không được tổ chức và thiết kế để trở thành những hệ thống phân phối chuyên nghiệp.
Về sản phẩm trên thị trường nội địa: Trên thị trường nội địa Việt Nam tràn ngập các sản phẩm ngoại nhập có chất lượng không hơn, nhưng giá cả lại cao hơn hàng Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam đã sản xuất được rất nhiều mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu, nhưng việc tiêu thụ những mặt hàng này ở nước ta còn rất khiêm tốn, không đúng tiềm năng. Chẳng hạn, sản lượng cà phê ở nước ta hàng năm thu hoạch được 700.000 - 800.000 tấn thì lượng cà phê tiêu thụ nội địa chỉ đạt gần 3,6%, trong khi theo đánh giá, có thể đạt mức khoảng 10% hay mỗi năm thị trường dệt may nội địa chỉ tăng trưởng 15%, trong khi ngoài 86 triệu dân, Việt Nam còn có khoảng trên sáu triệu khách du lịch mỗi năm. Sự hạn chế của các doanh nghiệp dệt may còn thể hiện, các sản phẩm may mặc Trung Quốc chất lượng thấp, giá rẻ lấn át các sản phẩm may mặc Việt Nam,...
Nguyên nhân hạn chế của TTNĐ
Thị trường nội địa Việt Nam bị bỏ trống trong một thời gian dài có nguyên nhân cả về phía Nhà nước lẫn cộng đồng doanh nghiệp.
Về phía Nhà nước: Chưa rõ nét về chiến lược dài hạn để phát triển hàng nội và thị trường nội địa. Các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thương mại trong thời gian dài tập trung đề xuất các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu phục vụ xuất khẩu, tìm kiếm thị trường nước ngoài, chưa thật sự chú trọng và đánh giá đúng vai trò của TTNĐ. Nhà nước chưa có những biện pháp hỗ trợ phù hợp cho cộng đồng doanh nghiệp trong việc điều tra nhu cầu thị trường, xây dựng mạng lưới phân phốí sản phẩm,…
Về phía doanh nghiệp: Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chưa có một chiến lược phát triển bài bản tại thị trường trong nước mà chủ yếu tập trung vào gia công hàng xuất khẩu. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm đầu ra xuất khẩu bị co hẹp, những doanh nghiệp Việt Nam vốn đã quen làm hàng xuất khẩu phải quay về thị trường trong nước. Thực tế từ đầu năm 2009 tới nay cho thấy, quay về TTNĐ là giải pháp đúng đắn giúp nhiều doanh nghiệp vượt qua khó khăn và góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua suy thoái.
Quan điểm phát triển thị trường nội địa
Cần nhận thức rằng, phát triển thị trường nội địa không có nghĩa là ưu tiên phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu, mà cần được xem đó là điểm tựa để các doanh nghiệp Việt Nam vững tin đi ra biển lớn.
Kinh nghiệm trên toàn thế giới từ nhiều năm nay cho thấy, những nước đi theo con đường phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu luôn luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, năng lực cạnh tranh quốc gia yếu kém, sử dụng tài nguyên, nhân lực và đồng vốn kém hiệu quả hơn so với những nước chọn con đường phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc là những trường hợp điển hình thành công của chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu. Trong khi đó, Brazil, Argentina - cái nôi của lý thuyết phát triển dựa vào thị trường nội địa - cũng phải từ bỏ chiến lược phát triển hướng nội để đi theo con đường xuất khẩu, hướng vào thị trường thế giới.
Nếu các doanh nghiệp Việt Nam chỉ hướng vào chiếm lĩnh TTNĐ mà không còn chú trọng đến xuất khẩu, tình trạng nhập siêu sẽ ngày càng tăng, dự trữ ngoại tệ quốc gia ngày càng cạn, thiếu ngoại tệ để làm nguồn vốn cho phát triển kinh tế sau này. Để phát triển TTNĐ cần có những giải pháp đồng bộ từ khâu sản xuất, nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đến khâu xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm, thay đổi tâm lý và thói quen của người tiêu dùng.
Để phát triển TTNĐ hiệu quả, cần có tham gia góp sức, hỗ trợ của các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương, cần sự quyết tâm hiệp lực của cộng đồng doanh nghiệp và tất cả các đối tượng có liên quan, trong đó vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Nhà nước cung cấp những lợi thế ưu việt cho các doanh nghiệp, như: lãi suất thấp cho đầu tư phát triển, quyền sở hữu tài sản được bảo vệ, bộ máy hành chính tốt, một lực lượng lao động được đào tạo và có kỷ luật cao, một mức lạm phát thấp và một cơ chế vận hành TTNĐ phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.n
Phát triển thị trường nội địa Khẳng định vị thế trên sân nhà
TCCT
Nhiều năm qua, trong bối cảnh thành tích xuất khẩu trở thành mục tiêu, thì việc phát triển thị trường nội địa chỉ là động cơ thứ yếu. Chỉ khi khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế xảy ra,
