Supe Lâm Thao: 45 năm ấy!

Thấm thoắt đã gần nửa thế kỷ trôi qua! Đối với Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao thì chặng đường 45 năm ấy thật vô cùng ý nghĩa. Có thể nói rằng, ngày lễ kỷ niệm truyền thống năm nay, nhiều

Lần thứ nhất, tại Đại hội Thi đua toàn quốc lần thứ năm (1986) Giám đốc Lê Quốc Khánh thay mặt cho tập thể cán bộ công nhân Supe phốt phát Lâm Thao đón nhận danh hiệu “Anh hùng Lao động” do Nhà nước phong tặng. Đây là ghi nhận thành tích của giai đoạn đầu hết sức đặc biệt này. Đặc biệt ở chỗ: Supe Lâm Thao là một nhà máy hóa chất, chuyên sản xuất phân bón, có quy mô lớn nhất Việt Nam, lần đầu tiên được xây dựng trên miền Bắc những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Xây dựng Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao là thực hiện đường lối Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý” trong đó chú trọng vào ngành phân bón hóa chất để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965): “ củng cố miền Bắc thành hậu phương vững mạnh cho cuộc đấu tranh ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà”. Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao ra đời là kết quả lao động hết mình của gần hai ngàn cán bộ công nhân Việt Nam và hơn 40 chuyên gia Liên Xô suốt gần 3 năm liền (1959-1962). Nhà máy đã trở thành biểu tượng bông hoa đẹp của tình hữu nghị Việt-Xô, ghi nhận sự giúp đỡ to lớn và quý báu của Đảng Cộng sản Liên Xô, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đối với Việt Nam. Supe Lâm Thao đã ghi dấu ấn lịch sử của một giai đoạn mà chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính trở thành phương châm hành động của các Đảng cộng sản trong phe xã hội chủ nghĩa tồn tại và phát triển suốt bốn thập niên 50, 60, 70, 80 của thế kỷ XX.

Cái đặc biệt thứ hai ở giai đoạn đầu tiên này là cán bộ và công nhân Supe Lâm Thao đến 99% từ nông dân mà ra, trình độ văn hóa hầu hết ở cấp tiểu học, có cả những người chưa thuộc hết chữ cái, thế mà đã tiếp nhận, quản lý, vận hành tốt một nhà máy sản xuất quy mô đại công nghiệp. Xin nêu vài con số xuất phát điểm khi Nhà máy bước vào sản xuất (24/6/1962) như sau:

Toàn Nhà máy có 1.115 người, chỉ có 20 người có trình độ đại học, trong 20 người này thì chỉ có 5 kỹ sư công nghệ. Cán bộ trung cấp kỹ thuật có 57 người, sơ cấp kỹ thuật 48 người. Tính tỷ lệ nhân lực có nghề qua đào tạo từ sơ cấp trở lên đến đại học chỉ có 77 người trên tổng số 1.115 người (0,8%). Vậy, để làm chủ máy móc thiết bị và công nghệ, không còn con đường nào khác là phải “học”- như  V.I. Lê Nin dạy: “ Học, học nữa, học mãi”. Thế hệ cán bộ công nhân đầu tiên ở Supe Lâm Thao đã xây dựng nên truyền thống “chịu học” trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Ngay khi công trường đang xây dựng, nơi đây đã hình thành nhiều lớp học bổ túc văn hóa, lớp học nghề, theo phương châm “người biết dạy người chưa biết; người biết nhiều dạy người biết ít; người người đi học; nhà nhà đi học”. Supe đã trở thành trường học lớn. Nơi đây là “cái nôi” nuôi dưỡng nguồn cán bộ lãnh đạo của ngành Công nghiệp: 2 đồng chí Thứ trưởng, 1 đồng chí Tổng Cục trưởng, 1 đồng chí Tổng Cục phó, 1 đồng chí Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Hoá chất – tất cả đều từ cương vị Giám đốc Công ty phát triển lên. Cán bộ kỹ thuật và công nhân Supe Lâm thao đã từng bước làm chủ được máy móc thiết bị và công nghệ. Những ngày đầu chuyên gia Liên Xô phải “cầm tay, chỉ việc”. Một thời gian ngắn sau họ đã thành thạo công việc. Từ chỗ “đứng sau lưng chuyên gia” rồi tiến tới “Đứng bên cạnh chuyên gia” và họ đã “ Đứng trước chuyên gia” với ý nghĩa người làm chủ thực sự máy móc thiết bị và công nghệ. Nhờ vậy, sau thời gian vài tháng đưa Nhà máy vào sản xuất đã đạt công suất thiết kế 40.000 tấn axít sunfuric/năm và 100.000 tấn supe lân/năm.

Cái đặc biệt thứ ba ở giai đoạn khởi đầu là những cán bộ lãnh đạo thế hệ đầu tiên ở đây đã đặt nền móng và xây dựng được chế độ, tác phong điều hành, quản lý đại công nghiệp, theo mô hình trực tuyến (mô hình quản lý nhà máy của các nước công nghiệp phát triển).Từ Giám đốc đầu tiên là đồng chí Lê Tự và Bí thư Đảng uỷ đầu tiên là đồng chí Phạm Du, đã xác định: “mọi hoạt động của Nhà máy phải lấy công tác khoa học kỹ thuật làm cơ sở”. Phương châm này xuất phát từ quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III: Tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, nhưng lấy cách mạng khoa học kỹ thuật làm then chốt. Cho nên, đối với Supe Lâm Thao, công tác khoa học kỹ thuật càng phải chú trọng. Vì, đại bộ phận công nhân từ nông dân mà ra, văn hóa thấp, tác phong lao động tùy tiện, cán bộ lãnh đạo quản lý thì từ người lính chuyển ngành sang, tuy có kỷ luật, nhưng văn hóa hạn chế. Trào lưu chung của các thập kỷ 50, 60, 70 thế kỷ trước là coi trọng công tác chính trị và coi nhẹ công tác kỹ thuật. Điều đó đúng nhưng chưa đủ, nhất là đối với cơ sở sản xuất đại công nghiệp như supe Lâm Thao. Bởi vậy, lãnh đạo Nhà máy đã thống nhất quan điểm: Công tác Đảng, công tác chính trị phải dựa trên công tác khoa học kỹ thuật. Nghe thì chưa thuận tai, song ở Supe Lâm Thao lại là đúng. Bởi vì, người công nhân mà tập trung tư tưởng và làm tốt kỹ thuật, có ý thức hợp đồng tốt, sẽ tạo ra sản phẩm tốt, năng suất cao, giá thành rẻ,  thì đó là chính trị. Cho nên, ở Supe Lâm Thao, ngay sinh hoạt Đảng và tổ chức hội họp của chính quyền và các đoàn thể đều theo kiểu công nghiệp, không có dài dòng, lê thê. Đã 45 năm nay vẫn giữ vững nề nếp công nghiệp như thế.

Lần thứ hai, Nhà nước lại phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao về thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tỉnh Phú Thọ có hai trọng điểm công nghiệp bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt. Đó là Khu Công nghiệp Việt Trì và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao. Cũng như công nhân các nhà máy khác trên miền Bắc, công nhân Supe Lâm Thao đã kiên cường bám trụ nhà máy để sản xuất, lại vừa tổ chức lực lượng tự vệ phòng không bắn trả máy bay Mỹ. Nhà máy đã phải hứng chịu gần 1.000 quả bom các loại với 33 trận oanh kích. Đại đội tự vệ cao xạ của Nhà máy đã góp phần cùng các đơn vị bạn bắn rơi 5 máy bay Mỹ. Có những trận đánh phá ác liệt, bom đạn Mỹ bắn sập tháp sấy, nhưng chỉ sau 3 tháng khôi phục, Nhà máy lại hoạt động bình thường. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngay dưới làn bom đạn của kẻ thù, dòng phân bón vẫn được liên tục sản xuất ra, cung cấp đều đặn cho những cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ. Từ 1965 đến 1975, Nhà máy đã có 121 người gia nhập vào quân đội, chi viện cho các chiến trường B, C, 559.

 Đất nước vừa hoà bình được vài năm thì chiến tranh biên giới phía Nam và phía Bắc nổ ra (1978-1979), Nhà máy đã có 186 người gia nhập quân đội, góp phần bảo vệ toàn vẹn biên giới và cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Nhà máy có 7 liệt sĩ hy sinh. Cuộc chiến tranh biên giới đã khép lại một thời kỳ láng giềng “thiếu hòa hiếu thực lòng” (Nguyễn Trãi).

Lần thứ ba, tại Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ sáu (năm 2000) Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao lại được Nhà máy phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”. Đây là giai đoạn đầu tư chiều sâu, đổi mới toàn diện, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hai mươi năm đổi mới (1986-2006) đối với Supe Lâm Thao được đánh dấu bởi Đợt mở rộng lần III(1988-1994) đưa công suất lên 500.000 tấn supe lân/năm. Đợt mở rộng lần IV (1999-2004) đưa sản lượng supe lân lên 750.000 tấn/năm và axít sunfuaríc 250.000 tấn/năm. Hai đợt mở rộng này là nhờ kinh nghiệm từ hai đợt mở rộng trước đây. Đợt I (1973-1974) nâng công suất axít sunfuaric lên 60.000 tấn/năm và supe lân lên 175.000 tấn/năm. Đợt II (1980-1984) đầu tư xây mới dây chuyền sản xuất axít 2 công suất 120.000 tấn/năm và dây chuyền sản xuất supe lân công suất 200.000 tấn/năm.

45 năm ấy, Supe Lâm Thao trải qua 4 đợt mở rộng. Có thể ví von sức lớn của Supe Lâm Thao như sức lớn của Phù Đổng, nên phải thay áo mới mấy lần (vì áo cũ đã chật). Lấy vài con số so sánh: Năm 1962, khi Nhà máy bắt đầu đi vào sản xuất, axít sunfuaric đạt 16.320 tấn và supe lân đạt 50.483 tấn. Năm 2006, axít sunfuaric đạt 263.454 tấn, supe lân đạt 751.202 tấn, NPK đạt 605.196 tấn, công suất gấp 14,5 lần so với thiết kế ban đầu. Đã có 14.533.674 tấn phân supe lân cung cấp cho nông nghiệp suốt 45 năm qua. Thế giới đã ghi nhận thành tích xuất khẩu gạo của Việt Nam, công bằng mà nói, trong đó là có công đóng góp của Supe Lâm Thao.

Với năng lực và vị trí hiện nay, Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã và đang là doanh nghiệp sản xuất phân bón lớn nhất nước ta, mức thu nhập bình quân đầu người năm 2006 là 3.100.000 đ/người/tháng. Tình nghĩa Supe Lâm Thao luôn thấm đượm bởi nghĩa cử  cao đẹp sau đây: Vận động công nhân đóng góp 4,528 tỷ đồng làm công tác từ thiện; phụng dưỡng suốt đời 15 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng 7 phòng học cho hai xã Hiền Quan (Tam Nông) và Đồng Lạc (Yên Lập) trị giá 525 triệu đồng; ủng hộ các quỹ nhân đạo 1,238 tỷ đồng v.v…

Supe Lâm Thao giống như một xã hội thu nhỏ. Nơi đây đã phát triển lên thành thị trấn Hùng Sơn với hơn 12.000 nhân khẩu mà có tới 99% là “dân supe” đã ba đời ăn lương Nhà máy. Nơi đây có đủ trường học cấp 1, cấp 2, nhà trẻ, sân bóng, bể bơi, bệnh xá, chợ búa giao dịch… Quanh thị trấn Hùng Sơn là 5 xã Hy Cương, Tiên Kiên, Chu Hóa, Thạch Sơn, Cao Mại, không ít con em đồng bào các xã này được tiếp nhận vào làm việc trong Nhà máy, gắn bó hơn tình nghĩa công – nông.

Chỉ có những người đã đến với Supe Lâm Thao những ngày đầu tiên vào thời điểm khởi công xây dựng Nhà máy, nay có dịp trở lại chốn xưa mới thấy hết sự vươn dậy, sự đổi thay rất đáng tự hào của Supe Lâm Thao suốt 45 năm ấy.

Kỹ sư Quách Đình Diệu là một trí thức du học tại Rumani những năm đầu thập kỷ 70. Anh Diệu đã gắn với Supe Lâm Thao trọn đời. Nay trên cương vị Giám đốc Công ty, anh hiểu Supe Lâm Thao như bàn tay mình. Nỗi niềm lớn nhất của anh là vững tay chèo lái để đưa Công ty phát triển một cách vững chắc trong thời kỳ hội nhập. Tôi xin trích câu thơ triết lý hành sự của anh Diệu, in trong tập thơ “Hạnh phúc xanh”*

“Đã rằng không tiếc máu xương

Chỉ lo chệch hướng sai phương tìm về” .

Đó cũng chính là phương châm lãnh đạo của 9 đời giám đốc Supe mà tôi có dịp tìm hiểu.
  • Tags: