Tóm tắt:
Nghiên cứu phân tích vai trò của việc tham vấn ý kiến cộng đồng trong quá trình tái thiết đô thị nhằm làm rõ tác động sự tham gia của người dân đối với hiệu quả quy hoạch và tính bền vững của các dự án tái thiết đô thị. Phương pháp nghiên cứu tại bàn được sử dụng để tổng hợp và phân tích các công trình khoa học, báo cáo chính sách, tài liệu pháp lý và các nghiên cứu điển hình trong nước và quốc tế. Kết quả cho thấy, tham vấn cộng đồng giúp nâng cao tính minh bạch, tăng sự đồng thuận xã hội, giảm xung đột lợi ích và cải thiện chất lượng quy hoạch tái thiết đô thị. Nghiên cứu bổ sung luận cứ lý luận về mô hình quản trị đô thị có sự tham gia của người dân, đồng thời đề xuất các định hướng nhằm tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin và tham vấn cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả các chương trình tái thiết đô thị và bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của cư dân.
Từ khóa: quy hoạch đô thị, tái thiết đô thị, tham vấn cộng đồng, quản trị đô thị, người dân tham gia.
1. Đặt vấn đề
Quá trình đô thị hóa nhanh trong những thập niên gần đây làm gia tăng nhu cầu tái thiết đô thị (TTĐT) nhằm nâng cấp hạ tầng, cải thiện chất lượng sống và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, nhiều chung cư cũ và khu vực đô thị xuống cấp cần được cải tạo, chỉnh trang. Tuy nhiên, TTĐT không chỉ tác động đến không gian vật chất mà còn ảnh hưởng đến sinh kế, quan hệ xã hội, bản sắc cộng đồng và quyền lợi cư dân. Thực tiễn cho thấy, nhiều dự án phát sinh xung đột do lợi ích các bên chưa được hài hòa và sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế trong quá trình ra quyết định (Healey, 1997; Innes & Booher, 2004). Báo cáo của Liên hợp quốc (UN, 2020) cũng chỉ ra thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, sự phản đối của cộng đồng là một trong những nguyên nhân chính làm chậm tiến độ hoặc dẫn đến thất bại của các chương trình tái phát triển đô thị (TTĐT) quy mô lớn.
Tại Việt Nam, yêu cầu tham vấn cộng đồng (TVCĐ) trong quá trình đô thị hóa đã từng bước được thể chế hóa thông qua các văn bản pháp luận như: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Đất đai năm 2024 và đặc biệt là Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2024.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trong nước đã nhấn mạnh vai trò sự tham gia của cộng đồng trong phát triển đô thị. Hương (2021) cho thấy, sự tham gia của người dân là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng quy hoạch và giảm thiểu các xung đột phát sinh trong quá trình phát triển đô thị. Cường & cộng sự (2020) nhận định, một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong cải tạo chung cư cũ và chỉnh trang đô thị tại Việt Nam là sự thiếu đồng thuận giữa các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng cư dân. Nhiều nghiên cứu khác của Nguyễn và cộng sự (2024), Thúy & cộng sự (2024) trong những năm gần đây đều chỉ ra hoạt động lấy ý kiến cộng đồng ở Việt Nam vẫn còn mang tính hình thức, mức độ phản hồi thấp và chưa hình thành được cơ chế giải trình, tiếp thu ý kiến một cách hiệu quả.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch đô thị, các nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của TVCĐ trong TTĐT dưới góc độ tạo lập đồng thuận xã hội vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải tạo chung cư cũ và chỉnh trang các khu dân cư xuống cấp. Khoảng trống này đòi hỏi phải làm rõ mối quan hệ giữa TVCĐ, mức độ chấp nhận của cư dân và hiệu quả thực hiện các chương trình TTĐT. Vì vậy, nghiên cứu tập trung phân tích vai trò của TVCĐ như một nền tảng thúc đẩy đồng thuận giữa chính quyền, nhà đầu tư và người dân. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận về quản trị đô thị có sự tham gia của cộng đồng, đồng thời đề xuất cơ sở hoàn thiện cơ chế TVCĐ nhằm nâng cao hiệu quả TTĐT, giảm xung đột và hướng tới phát triển bền vững.
2. Tổng quan tài liệu và khoảng trống nghiên cứu
Khái niệm “tái thiết đô thị” được thống nhất chung trong các tài liệu nước ngoài và Nghị định 11/2013/NĐ-CP, thường gắn với phá dỡ quy mô lớn và xây dựng mới trên nền các công trình cũ đã bị phá bỏ. Các nghiên cứu khoa học về TTĐT đều nhấn mạnh vấn đề cốt lõi là vai trò của các bên tham gia và lấy người dân làm trung tâm. Trong lý thuyết quy hoạch hiện đại, sự tham gia của cộng đồng được xem là nền tảng của quản trị đô thị dân chủ và phát triển bền vững. Arnstein (1969) với mô hình “Thang bậc tham gia của công dân” đã đề xuất cấp độ tham gia của công dân gồm 8 bậc, chia thành 3 tầng (Hình 1).
![]()
Hình 1: Thang Arnstein; nguồn: Arnstein (1969)
Thang bậc tham gia của Arnstein (1969) gồm 3 nhóm chính.
Thứ nhất là Không tham gia thực chất (Non-participation) với 2 bậc: vận dụng/định hướng (Manipulation) và điều chỉnh (Therapy). Ở mức này, người dân được mời tham gia nhưng chủ yếu để nghe, đồng thuận hoặc chấp nhận các quyết định đã được xác định trước. Mục tiêu không phải là tạo cơ hội tham gia thực chất mà là thuyết phục cộng đồng ủng hộ quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai là Tham gia hình thức (Tokenism) gồm 3 bậc: thông tin (Informing), tham vấn (Consultation) và xoa dịu (Placation). Người dân được cung cấp thông tin, được lấy ý kiến hoặc được tham gia ở mức độ nhất định, nhưng không có bảo đảm các ý kiến này sẽ được tiếp thu và phản ánh trong quyết định cuối cùng. Dù một số đề xuất có thể được chấp nhận nhằm tạo sự đồng thuận, quyền quyết định thực tế vẫn thuộc về chính quyền hoặc chủ đầu tư.
Thứ ba là Quyền lực của công dân (Citizen Power) gồm các bậc: quan hệ đối tác (Partnership), ủy thác quyền lực (Delegated Power) và kiểm soát của công dân (Citizen Control). Ở các mức này, người dân tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định thông qua cơ chế chia sẻ quyền lực với chính quyền, được giao quyền quyết định trong một số lĩnh vực cụ thể hoặc thậm chí nắm quyền kiểm soát toàn bộ quá trình thực hiện và kết quả của dự án. Người dân trở thành đối tác của chính quyền trong quá trình ra quyết định, có quyền giám sát, phản biện và tác động thực chất đến kết quả cuối cùng, thay vì chỉ đóng vai trò được thông báo hoặc được lấy ý kiến.
Mức độ tham gia của người dân vào các quyết định của chính quyền phản ánh mức độ phân bổ quyền lực trong xã hội, trong đó các hình thức hợp tác, đồng quản lý và trao quyền có khả năng tạo ra sự đồng thuận xã hội cao hơn các hình thức tham vấn mang tính hình thức. Sau này, lý thuyết Thang Arnstein (1969) về mức độ tham gia của công dân đã được các học giả ứng dụng trong các nghiên cứu điển hình, ví dụ: Healey (1997) ứng dụng thang này và lập luận quy hoạch đô thị hiệu quả cần được thực hiện thông qua quá trình hợp tác giữa các bên liên quan, trong đó đối thoại, chia sẻ tri thức và xây dựng đồng thuận đóng vai trò trung tâm; Innes & Booher (2004) khi đề xuất mô hình tham gia công chúng mới, tăng đối thoại, hợp tác và đồng thuận trong quy hoạch thế kỷ XXI; Jackson (2001) về sự tham gia cộng đồng trong quy hoạch tài nguyên; cùng nhiều nghiên cứu TTĐT, quy hoạch đô thị và quản trị nhà nước tại địa phương.
![]()
Hình 2. Mục tiêu tái thiết đô thị; nguồn: Bianchi (2019)
Nghiên cứu của Bianchi (2019) về dự án TTĐT đưa ra lý thuyết về Cộng đồng dẫn dắt (Community-led Reconstruction) trên cơ sở dữ liệu tại Gillet Square (London) cho thấy, mục đích TTĐT hiệu quả không chỉ tập trung vào cải thiện không gian vật chất mà còn phải bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân, thúc đẩy các hoạt động văn hóa và tăng cường gắn kết xã hội. Cách tiếp cận lý thuyết này coi cộng đồng là chủ thể quan trọng trong quá trình lập kế hoạch, ra quyết định và quản lý phát triển đô thị bền vững.
Phương pháp tiếp cận lý thuyết quy hoạch hợp tác (Collaborative Planning) của Healey (1997) được xem là một cách tiếp cận nhằm tăng cường sự đồng thuận và quản trị dân chủ trong phát triển đô thị, đồng thời nhấn mạnh vai trò của đối thoại giữa các bên liên quan trong việc xây dựng sự đồng thuận và nâng cao tính chính danh của các quyết định quy hoạch. Tương tự, Innes và Booher (2004) cho rằng, quá trình tham vấn hiệu quả không chỉ cải thiện chất lượng quyết định mà còn gia tăng niềm tin xã hội, giảm xung đột và nâng cao khả năng thực thi chính sách.
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, TVCĐ đóng vai trò quan trọng trong TTĐT để đạt những mục tiêu khác nhau (Bảng 1).
Bảng 1. Tổng quan một số nghiên cứu và kết quả
|
Nghiên cứu |
Nơi nghiên cứu |
Phương pháp |
Kết quả |
|
Jin et al. (2018) |
Busan, Hàn Quốc |
Khảo sát 292 hộ gia đình, nghiên cứu định lượng. |
Tham gia cộng đồng làm tăng sự hài lòng về khu ở mới, tái định cư. |
|
Glackin & Dionisio (2016) |
Australia |
Nghiên cứu tình huống. |
Tăng đồng thuận và niềm tin của cộng đồng. |
|
Hoa và Loan (2018) |
Hà Nội, Việt Nam |
Khảo sát và nghiên cứu định tính |
Tăng đồng thuận xã hội nâng cao chất lượng thiết kế, và bảo đảm tính bền vững và khả thi của các dự án cải tạo đô thị. |
|
Bianchi (2019) |
London |
Nghiên cứu tình huống |
Tăng gắn kết xã hội và sử dụng không gian công cộng |
|
Innes & Booher (2004) |
Hoa Kỳ |
Nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn kết hợp so sánh |
Giảm xung đột, tăng đồng thuận. |
|
Erfani. & Roe (2020) |
Tehran |
Phân tích trách nhiệm các bên liên quan. |
Tăng tính bền vững và chất lượng các quyết định. |
|
Nguyễn (2021) |
Việt Nam |
Phân tích trách nhiệm các bên liên quan và hành lang pháp lý. |
Sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch đô thị còn mang tính hình thức do thiếu khung pháp lý và hướng dẫn cụ thể; việc công khai thông tin, tiếp thu ý kiến và cơ chế phản hồi chưa đầy đủ, làm giảm hiệu quả tham vấn. |
|
Thúy và cộng sự (2024 ) |
Hà Nội, Việt Nam |
Khảo sát 129 hộ dân đang sinh sống tại các chung cư cũ ở Hà Nội. Nghiên cứu định tính. |
Tái thiết cần với phù hợp nhu cầu thực tế của cộng đồng về quy hoạch sử dụng đất, tiêu chuẩn kiến trúc cảnh quan và tiến độ thực hiện dự án cải tạo. |
|
Maginn (2007) |
Vương quốc Anh
|
Nghiên cứu định tính, Phỏng vấn các bên liên quan và phân tích dữ liệu, chính sách. |
TVCĐ giúp nâng cao chất lượng và độ chính xác của thông tin cho việc ra quyết định; giảm nguy cơ thất bại hoặc phản đối đối với các chính sách tái thiết, tăng tính phù hợp và khả thi của các quyết định quản lý và cải thiện mối quan hệ giữa chính quyền và cộng đồng dân cư. |
|
Wang et al. (2024a) |
Thượng Hải, Trung Quốc |
Nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu các bên liên quan và phân tích tài liệu.
|
Tham gia của cộng đồng giúp nhà quản lý hiểu rõ nhu cầu địa phương, từ đó xây dựng các chính sách và chương trình tái thiết phù hợp nhằm: nâng cao chất lượng thông tin phục vụ quản lý, giảm rủi ro thất bại của chính sách và tăng tính phù hợp của các quyết định quản lý. |
|
Zhou et al. (2025) |
Quảng Châu, Trung Quốc |
Nghiên cứu định tính, phỏng vấn 6 bên liên quan: cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, đơn vị tư vấn quy hoạch, doanh nghiệp bất động sản, tổ chức xã hội, và cư dân địa phương. |
Tham vấn khi quy hoạch hợp tác trong TTĐT giúp chính quyền hiểu rõ hơn nhu cầu của các bên liên quan, qua đó nâng cao chất lượng quyết định của chính quyền, giảm xung đột và cải thiện hiệu quả thực thi chính sách. |
Nguồn: tác giả tổng lược
Tổng quan các nghiên cứu cho thấy, TVCĐ ngày càng được thừa nhận là một thành tố quan trọng trong TTĐT, góp phần nâng cao tính minh bạch, tạo dựng đồng thuận xã hội và cải thiện chất lượng các quyết định quy hoạch. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào vai trò của TVCĐ trong quá trình lập quy hoạch và ra quyết định, trong khi những tác động của TVCĐ đối với công tác quản lý nhà nước về TTĐT vẫn chưa được phân tích một cách toàn diện. Bên cạnh đó, các hình thức tham vấn được áp dụng trong thực tiễn còn đa dạng nhưng chưa được hệ thống hóa đầy đủ để đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả trong bối cảnh Việt Nam.
Xuất phát từ những khoảng trống về lý luận và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu này hướng tới 3 mục tiêu chính: (1) phân tích vai trò của TVCĐ trong việc tạo lập đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình TTĐT; (2) Nhận diện các hình thức và hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá TVCĐ được áp dụng trong quá trình TTĐT; và (3) Làm rõ tác động của TVCĐ đối với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực TTĐT.
3. Phương pháp và tài liệu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk research) được ứng dụng dựa trên việc thu thập và khai thác các nguồn dữ liệu thứ cấp liên quan đến TVCĐ trong TTĐT. Nguồn tài liệu bao gồm các bài báo khoa học trong nước và quốc tế, sách chuyên khảo, báo cáo của các tổ chức quốc tế như UN, OECD, cùng các văn bản pháp luật, chính sách và nghiên cứu điển hình về TTĐT. Việc lựa chọn các nguồn dữ liệu có tính học thuật và thực tiễn nhằm bảo đảm cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm cho nghiên cứu.
Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu để làm rõ các khái niệm, nguyên tắc và vai trò của TVCĐ trong quá trình TTĐT. Phương pháp phân tích được áp dụng nhằm nhận diện các yếu tố tác động đến sự đồng thuận xã hội, những lợi ích và thách thức của hoạt động tham vấn. Đồng thời, phương pháp tổng hợp giúp hệ thống hóa các kinh nghiệm quốc tế và trong nước, từ đó rút ra các bài học và hàm ý chính sách nhằm tăng cường hiệu quả tham gia của cộng đồng trong các chương trình TTĐT tại Việt Nam.
4. Kết quả và thảo luận
4.1. Vai trò của tham vấn cộng đồng khi tái thiết đô thị
Tham vấn cộng đồng ngày càng được xem là một thành tố quan trọng trong TTĐT, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao chất lượng quyết định và thúc đẩy phát triển bền vững. Nghiên cứu của Roberts và Sykes (2008) cho thấy, việc lồng ghép ý kiến cư dân vào quá trình tái thiết không chỉ làm tăng tính khả thi của dự án mà còn giảm chi phí xã hội và nâng cao mức độ đồng thuận của cộng đồng. Quan điểm này tiếp tục được củng cố trong các nghiên cứu của UN (2020) và OECD (2022), khi các tổ chức này khẳng định những chương trình tái thiết thành công thường gắn liền với cơ chế tham gia thực chất của người dân từ giai đoạn lập quy hoạch, thiết kế phương án đến giám sát thực hiện.
Nghiên cứu của Jin và cộng sự (2018) tại khu vực Amichojang, Busan (Hàn Quốc), dựa trên khảo sát 292 hộ dân, cho thấy mức độ tham gia của cư dân có tương quan thuận với sự hài lòng đối với dự án tái tạo đô thị. Kết quả này cho thấy, cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể góp phần quyết định hiệu quả của quá trình tái thiết. Phát hiện trên phù hợp với các lý thuyết quy hoạch hợp tác và quản trị có sự tham gia, nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương và kinh nghiệm sống của người dân như những nguồn lực quan trọng giúp nâng cao chất lượng quyết định và gia tăng tính bền vững của các dự án TTĐT.
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò của cộng đồng trong quy hoạch và TTĐT. Hoa và Loan (2018), trên cơ sở lý thuyết về TTĐT và quản trị có sự tham gia, đã đề xuất quy trình thiết kế đô thị cho không gian đường phố Hà Nội gồm các bước khảo sát, tham vấn, lập phương án, đánh giá và giám sát thực hiện. Kết quả cho thấy, TVCĐ góp phần nâng cao chất lượng thiết kế, tăng đồng thuận xã hội và cải thiện tính khả thi của các dự án cải tạo đô thị.
Tuy nhiên, việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch đô thị ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyễn (2021) cho rằng, mặc dù đã được quy định trong pháp luật, sự tham gia của cộng đồng chủ yếu mang tính hình thức do khung pháp lý chưa hoàn thiện. Các bất cập gồm thiếu tiêu chí xác định đối tượng tham gia, thiếu hướng dẫn về nội dung và phương thức lấy ý kiến, đồng thời chưa có cơ chế giám sát, phản hồi và giải trình hiệu quả. Điều này cho thấy, cần tăng cường sự tham gia thực chất của cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch trong quá trình ra quyết định. Kết quả khảo sát 129 hộ dân tại các chung cư cũ ở Hà Nội của Thúy và cộng sự (2024) tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của TVCĐ trong việc xây dựng các phương án tái thiết phù hợp với nhu cầu thực tế của cư dân. Các vấn đề được người dân quan tâm nhiều nhất gồm quy hoạch sử dụng đất, tiêu chuẩn kiến trúc cảnh quan và tiến độ thực hiện dự án. Điều này cho thấy hiệu quả của TTĐT phụ thuộc đáng kể vào khả năng phản ánh và tích hợp các nhu cầu của cộng đồng vào quá trình lập kế hoạch và triển khai dự án.
Các nghiên cứu gần đây khẳng định TVCĐ là yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả tái thiết đô thị (TTĐT). Wang và cộng sự (2024) cho rằng quản trị hợp tác dựa trên đối thoại và sự tham gia của người dân giúp giải quyết xung đột, tăng cường đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Tương tự, Zhou và cộng sự (2025) nhận định quy hoạch hợp tác giúp chính quyền hiểu rõ nhu cầu của các bên liên quan, từ đó nâng cao chất lượng quyết định và giảm xung đột, mặc dù mức độ ảnh hưởng của cộng đồng đến phương án quy hoạch cuối cùng còn hạn chế. Nhìn chung, TVCĐ không chỉ cung cấp thông tin đa chiều cho quản lý mà còn góp phần nâng cao chất lượng quy hoạch, tăng đồng thuận xã hội, cải thiện khả năng thực thi và bảo đảm tính bền vững của các chương trình TTĐT.
Những phát hiện này phù hợp với các lý thuyết về quy hoạch hợp tác của Healey (1997) và Bianchi (2019) về quản trị TTĐT có sự tham gia của cộng đồng, trong đó sự tương tác giữa các chủ thể được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị đô thị. Do đó, TVCĐ không chỉ là một yêu cầu mang tính thủ tục mà còn cần được xem là công cụ quản trị hiệu quả trong quản lý nhà nước về TTĐT. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường cơ chế phản hồi và giải trình, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia thực chất vào các dự án TTĐT.
4.2. Nhóm chỉ số đánh giá tác động của tham vấn cộng đồng đối với hoạt động tái thiết đô thị
Dựa trên tổng hợp các nghiên cứu về tham gia cộng đồng trong quy hoạch, tái thiết và phát triển đô thị, nghiên cứu đề xuất bộ chỉ số đánh giá chất lượng tham vấn cộng đồng gồm 7 nhóm chỉ số /tiêu chí cốt lõi. Bộ chỉ số được xây dựng theo hướng đánh giá toàn diện, bao quát từ khả năng tiếp cận thông tin, mức độ và chất lượng tham gia, đến ảnh hưởng của tham vấn đối với quyết định quản lý và các kết quả xã hội đạt được.
Bảng 2. Các nhóm chỉ số đánh giá tác động của tham vấn cộng đồng đối với hoạt động tái thiết đô thị.
|
Nhóm chỉ số |
Tiêu chí chính |
Nghiên cứu tham khảo |
Cách đo lường |
|
1. Tiếp cận và bao phủ cộng đồng (Inclusiveness) |
Tỷ lệ hộ dân được thông báo; tỷ lệ tham gia; tính đại diện của các nhóm dân cư. |
IAP2 (2007); OECD (2022); Innes & Booher (2004) |
% hộ dân nhận thông tin, % tham gia, mức độ đại diện theo giới tính, tuổi, thu nhập. |
|
2. Minh bạch thông tin (Information transparency) |
Công khai hồ sơ dự án; thời gian công bố; mức độ hiểu thông tin của người dân. |
IAP2 (2007) Creighton (2005) |
Số tài liệu công bố, số ngày công khai trước tham vấn, khảo sát mức độ hiểu biết. |
|
3. Chất lượng đối thoại (Dialog quality) |
Thảo luận hai chiều; thời lượng dành cho người dân; mức độ tôn trọng và đa chiều |
Innes & Booher (2004); Healey (1997); |
Số phiên đối thoại, % thời gian phát biểu của người dân, khảo sát đánh giá. |
|
4. Phản hồi và giải trình ((Feedback Loop) |
Tỷ lệ ý kiến được phản hồi; thời gian phản hồi; công khai kết quả xử lý. |
IAP2 (2007), giá trị cốt lõi số 7 |
% ý kiến được trả lời, số ngày phản hồi, có/không công khai kết quả. |
|
5. Ảnh hưởng đến quyết định (Influence on making decision) |
Tỷ lệ đề xuất được tiếp thu; số điều chỉnh phương án; mức độ chia sẻ quyền quyết định. |
Thang tham gia của Arnstein (1969) |
% ý kiến được tích hợp, số thay đổi thiết kế, đánh giá theo thang IAP2/Arnstein. |
|
6. Hài lòng và niềm tin (Satisfaction and trust) |
Mức độ hài lòng; niềm tin vào chính quyền/chủ đầu tư; sẵn sàng tham gia tiếp. |
Rowe & Frewer (2000, 2004), Yang & Callahan (2007) |
Thang điểm khảo sát (1-5 hoặc 1-10), % đồng ý tham gia lần sau. |
|
7. Kết quả xã hội (Social outcomes) |
Đồng thuận cộng đồng; tỷ lệ chấp nhận phương án; giảm khiếu nại, khiếu kiện. |
Beierle & Cayford (2002); Abelson et al. (2003) |
Khảo sát cộng đồng, % đồng ý, số lượng hoặc tỷ lệ khiếu nại giảm. |
Nguồn: tác giả xây dựng dựa vào các nghiên cứu trước đó
Nhóm tiếp cận và bao phủ đánh giá mức độ tham gia của các nhóm dân cư; minh bạch thông tin phản ánh khả năng tiếp cận và hiểu biết của người dân về dự án. Chất lượng đối thoại đo lường mức độ trao đổi thực chất giữa các bên, trong khi phản hồi và giải trình thể hiện trách nhiệm của cơ quan quản lý trong việc tiếp thu và phản hồi ý kiến cộng đồng. Ảnh hưởng đến quyết định đánh giá mức độ tác động của ý kiến người dân tới phương án cuối cùng và là chỉ số trọng tâm. Hài lòng và niềm tin phản ánh cảm nhận của người dân đối với quá trình tham vấn. Cuối cùng, kết quả xã hội đo lường hiệu quả thực tiễn thông qua mức độ đồng thuận với dự án và giảm xung đột. Tổng thể, bộ chỉ số cho phép đánh giá toàn diện hoạt động TVCĐ từ đầu vào, quá trình đến kết quả.
4.3. Tác động của tham vấn cộng đồng đối với quản lý nhà nước về tái thiết đô thị
Kết quả tổng hợp các nghiên cứu cho thấy, TVCĐ có vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tái thiết đô thị (TTĐT). Thông qua tham vấn, cơ quan quản lý có thể tiếp cận thông tin thực tiễn, hiểu rõ hơn nhu cầu, lợi ích và các vấn đề người dân quan tâm, từ đó hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch và ra quyết định, đồng thời nâng cao tính khả thi của dự án. Các nghiên cứu gần đây cũng nhấn mạnh vai trò của TVCĐ trong giải quyết xung đột và tăng cường đồng thuận xã hội. Wang và cộng sự (2024b) cho rằng, quản trị hợp tác ở cấp cơ sở giúp dung hòa lợi ích thông qua đối thoại và thương lượng. Tương tự, Zhou và cộng sự (2025) chỉ ra, quy hoạch hợp tác giúp nâng cao chất lượng quyết định và hiệu quả thực thi chính sách. Mặc dù ảnh hưởng trực tiếp của cộng đồng đến phương án cuối cùng còn hạn chế, TVCĐ vẫn góp phần củng cố tính chính danh của các quyết định quản lý.
![]()
Hình 3. Tác động của TVCĐ đến quản lý nhà nước về TTĐT (tác giả đề xuất)
Kết quả này phù hợp với quan điểm của quy hoạch hợp tác và quản trị có sự tham gia, cho rằng tri thức của cộng đồng địa phương là nguồn thông tin quan trọng giúp cải thiện chất lượng quyết định công. Các nghiên cứu của Roberts và Sykes (2000), UN (2020) và OECD (2022) đều chỉ ra, việc lồng ghép ý kiến người dân ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm khoảng cách giữa chính quyền và cộng đồng, đồng thời tăng cường sự chấp nhận xã hội đối với các quyết định quản lý. Do đó, TVCĐ không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn là cơ chế quản trị hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng quy hoạch, tăng tính minh bạch trong quá trình ra quyết định và thúc đẩy thực hiện thành công các chương trình TTĐT.
5. Kết luận và khuyến nghị
5.1. Kết luận
Nghiên cứu đã tổng hợp và phân tích các cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam về vai trò của TVCĐ trong TTĐT. Kết quả cho thấy, TVCĐ không chỉ là yêu cầu của quản trị đô thị dân chủ, mà còn là điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của các chương trình TTĐT. Sự tham gia của người dân giúp nâng cao chất lượng thông tin, cải thiện công tác quy hoạch và thiết kế đô thị, tăng mức độ phù hợp của dự án với nhu cầu thực tiễn, đồng thời tạo lập đồng thuận xã hội, giảm xung đột và nâng cao khả năng chấp nhận các quyết định tái thiết. Từ góc độ quản lý nhà nước, TVCĐ còn góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả giám sát trong quá trình hoạch định, thực thi chính sách. Nghiên cứu cũng đề xuất các tiêu chí đánh giá TVCĐ phục vụ công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực TTĐT.
5.2. Khuyến nghị chính
So sánh các nghiên cứu quốc tế với thực tiễn Việt Nam (Hoa & Loan, 2018; Nguyễn Đăng Sơn, 2021; Thúy và cộng sự, 2024) cho thấy TVCĐ trong TTĐT vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề nổi bật gồm thiếu quy định cụ thể về quy trình tham vấn, cơ chế phản hồi và giải trình chưa đầy đủ, sự tham gia của người dân còn mang tính hình thức và sự phối hợp giữa các bên liên quan chưa hiệu quả. Theo các tiêu chí đánh giá quốc tế, những hạn chế này thể hiện ở tính bao trùm, minh bạch thông tin, cơ chế phản hồi và mức độ ảnh hưởng thực tế của ý kiến cộng đồng đến quyết định cuối cùng. Để cải thiện tình trạng này và từng bước nâng cao mức độ tham gia theo hướng thực chất hơn, cần tập trung vào các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về TVCĐ trong TTĐT theo hướng quy định rõ đối tượng tham gia, nội dung tham vấn, trách nhiệm giải trình, cơ chế phản hồi và công khai kết quả tiếp thu ý kiến của cộng đồng. Các quy định này cần được cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, Luật Đất đai và các chính sách liên quan đến TTĐT.
Thứ hai, cần thiết lập cơ chế tham vấn thực chất ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, lập quy hoạch và xây dựng phương án tái thiết. Việc tham vấn cần được thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng như hội nghị cộng đồng, khảo sát trực tuyến, đối thoại trực tiếp và ứng dụng nền tảng số nhằm bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các nhóm dân cư bị ảnh hưởng. Ngoài ra, cần nghiên cứu ban hành các hình thức và tiêu chí đánh giá tác động của TVCĐ đến hoạt động quản lý nhà nước về TTĐT.
Thứ ba, nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia. Chính quyền cần tăng cường kỹ năng tổ chức tham vấn và xử lý xung đột; đơn vị tư vấn cần cải thiện năng lực truyền đạt thông tin; người dân cần được cung cấp thông tin đầy đủ để có thể tham gia hiệu quả hơn vào quá trình ra quyết định.
Thứ tư, xây dựng cơ chế phối hợp và quản trị hợp tác giữa chính quyền, nhà đầu tư, đơn vị tư vấn và cộng đồng dân cư nhằm tạo dựng niềm tin, nâng cao tính minh bạch và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình TTĐT.
Thứ năm, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác TVCĐ, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống phản hồi trực tuyến để hỗ trợ công khai thông tin, tiếp nhận ý kiến và giám sát quá trình thực hiện dự án. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị đô thị mà còn thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân trong tiến trình TTĐT theo hướng bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Hương, T. T. (2021), Những bất cập về sự tham gia của cộng đồng trong lập quy hoạch đô thị, Tạp chí Quản lý nhà nước. Truy cập từ https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/04/15/nhung-bat-cap-ve-su-tham-gia-cua-cong-dong-trong-lap-quy-hoach-do-thi
Nguyễn, Đ. S. (2021), Những bất cập về sự tham gia của cộng đồng trong lập quy hoạch đô thị, Tạp chí Quản lý Nhà nước. Truy cập từ: https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/04/15/nhung-bat-cap-ve-su-tham-gia-cua-cong-dong-trong-lap-quy-hoach-do-thi/
Cường, N.T., Cường, C.V.& Minh, N.V. (2023), Phân tích rào cản thực hiện các dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ tại TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Xây dựng, 8 (2023), 52-55.
Thúy, N. T., Trang, Dương Thị H. & Dương, Đ. H. (2024), Tạp chí Xây dựng, 12, 2024, 88-91 International Association for Public Participation. (2007).
Abelson, J., Forest, P.-G., Eyles, J., Smith, P., Martin, E., & Gauvin, F.-P. (2003), Deliberations about deliberative methods: Issues in the design and evaluation of public participation processes. Social Science & Medicine, 57(2), 239-251. https://doi.org/10.1016/S0277-9536(02)00343-X
Arnstein S. R. (1969), A Ladder of Citizen Participation, Journal of the American Institute of Planners, 35(4), 216-224, https://doi.org/10.1080/01944366908977225
Beierle, T. C., & Cayford, J. (2002), Democracy in practice: Public participation in environmental decisions. Resources for the Future Press.
Bianchi, M. (2019), Renewing the city through public participation and cultural activities: The case study of Gillet Square, a community-led urban regeneration project, Journal of Entrepreneurial and Organizational Diversity, 8(1), 1-21. https://doi.org/10.5947/jeod.2019.00
Creighton, J. L. (2005), The public participation handbook: Making better decisions through citizen involvement (1st ed.). Jossey-Bass.
Erfani, G. & Roe, M. (2020), Institutional stakeholder participation in urban redevelopment in Tehran: An evaluation of decisions and actions, Land Use Policy, 91 (2020), https://doi.org/10.1016/j.landusepol.2019.104367
Glackin, S., & Dionisio, M. R. (2016), Deep engagement and urban regeneration: Tea, trust, and the quest for co-design at precinct scale, Land Use Policy, 52, 363-373. https://doi.org/10.1016/j.landusepol.2016.01.001
Healey, P. (1997), Collaborative Planning: Shaping Places in Fragmented Societies. London, England: Macmillan Press Ltd. https://doi.org/10.1007/978-1-349-25538-2
Hoa, T. Q., & Loan, P. (2018), Urban Design Process with Community Participation for Streetscapes in Hanoi, Journal of Science and Technology in Civil Engineering, 12(3), 74-88.
IAP2 (2007), International Association for Public Participation, https://iap2.org.au/resources/spectrum/
Innes, J. E., & Booher, D. E. (2004), Reframing Public Participation: Strategies for the 21st Century. Planning Theory & Practice, 5(4), 419-436. https://doi.org/10.1080/1464935042000293170
Jackson, L. S. (2001), Contemporary public involvement: Toward a strategic approach, Local Environment, 6(2), 135–147. https://doi.org/10.1080/13549830120052782
Jin, E., Lee, W. & Kim, D. (2018), Does Resident Participation in an Urban Regeneration Project Improve Neighborhood Satisfaction: A Case Study of “Amichojang” in Busan, South Korea, Sustainability, MDPI, vol. 10(10), 1-13.
Maginn, P. J. (2007), Towards more effective community participation in urban regeneration: The potential of collaborative planning and applied ethnography, Qualitative Research, 7(1), 25-43. https://doi.org/10.1177/1468794107071400
Nguyen, M. V., Ha, K. D., Phan, C. T., & Le, D. T. (2024). Assessing the complexity of old building renovation andreconstruction projects, Journal Construction, 4 (2024), 86-89
OECD. (2022), OECD guidelines for citizen participation processes, OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f765caf6-en
Roberts, P., & Sykes, H. (Eds.). (2000), Urban regeneration: A handbook. Sage Publication, 2008.
Rowe, G., & Frewer, L. J. (2000), Public participation methods: A framework for evaluation. Science, Technology & Human Values, 25(1), 3-29. https://doi.org/10.1177/016224390002500101
Rowe, G., & Frewer, L. J. (2004), Evaluating public-participation exercises: A research agenda. Science, Technology, & Human Values, 29(4), 512-556. https://doi.org/10.1177/0162243903259197
UN (2020). World Cities Report 2020: The Value of Sustainable Urbanization. Nairobi, Kenya: United Nations Human Settlements Programme (UN-Habitat). Accessed from: https://digitallibrary.un.org/record/3905819?v=pdf
Wang, H., & Xu, Y. (2024a), Achieving Neighborhood-Level Collaborative Governance through Participatory Regeneration: Cases of Three Residential Heritage Neighborhoods in Shanghai. Sustainability, 16(5), 2082. https://doi.org/10.3390/su16052082
Wang, H., Ran, B., & Li, Y. (2024b), Street-level collaborative governance for urban regeneration: How were conflicts resolved at grassroot level? Journal of Urban Affairs, 46(9), 1723-1743. https://doi.org/10.1080/07352166.2022.2133725
Yang, K., & Callahan, K. (2007). Citizen involvement efforts and bureaucratic responsiveness: Participatory values, stakeholder pressures, and administrative practicality. Public Administration Review, 67(2), 249-264. https://doi.org/10.1111/j.1540-6210.2007.00711.x
Zhou, X., Lin, Y., Monstadt, J., Hooimeijer, P., Wang, S., & Liu, Z. (2025), Examining collaborative planning processes and outcomes in urban regeneration: A deliberative turn in China? Urban Studies, 62(4), 682-699. https://doi.org/10.1177/00420980241259985
Community consultation in urban regeneration: a solution for enhancing urban governance effectiveness
Tran Thi Bich Ngoc
School of Economics, Hanoi University of Science and Technology
Email: ngoc.tranthibich@hust.edu.vnAbstract:
This study analyzes the role of community consultation in urban regeneration to clarify the impact of public participation on planning effectiveness and the sustainability of urban regeneration projects. A desk research method was employed to synthesize and analyze academic studies, policy reports, legal documents, and both domestic and international case studies. The findings indicate that community consultation enhances transparency, strengthens social consensus, reduces conflicts of interest, and improves the quality of urban regeneration planning. The study contributes to the theoretical foundation of participatory urban governance while proposing directions to strengthen information-sharing mechanisms and community consultation practices. These recommendations aim to improve the effectiveness of urban regeneration programs and better safeguard the legitimate rights and interests of residents.Keywords: urban planning, urban regeneration, community consultation, urban governance, community participation
