Nguyên đơn cáo buộc rằng, hàng hóa bị điều tra xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ với giá thấp hơn giá trị thông thường, do đó đã gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa của Thổ Nhĩ Kỳ.
Khối lượng hàng bị điều tra từ Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ trong 3 năm, giá trịtrung bình khoảng 120 triệu USD/năm,chiếm khoảng 20% tổng lượng nhập khẩu sản phẩm của Thổ Nhĩ Kỳ. Theo quy trình điều tra chống bán phá giá của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi thông báo chocác nước có liên quan về việc nhận đơn yêu cầu điều tra vụ việc, trong trường hợp chính thức khởi xướng, cơ quan điều tra Thổ Nhĩ Kỳ sẽ đăng thông báo trên Công báo liên bang, đồng thời gửi bản tóm tắt đơn kiện và bản câu hỏi điều tra tới các nước và nhà xuất khẩu có liên quan trong vụ việc.
Thổ Nhĩ Kỳ là một trong số các quốc gia rất tích cực áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới, đặc biệt là biện pháp chống bán phá giá và tự vệ. Đây là vụ kiện chống bán phá giá thứ 5 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và là vụ kiện chống bán phá giá thứ 3 của Thổ Nhĩ Kỳ liên quan tới mặt hàng sợi xuất khẩu từ Việt Nam. Hai vụ kiện chống bán phá giá trước đó liên quan tới mặt hàng sợi nhân tạo tổng hợp (2012) có mã HS: 3921.90, 5407.20và sợi vải bạt polyethylene/polypropylene(2008) có mã HS: 5508 đến 5511. Hai vụ việc này vẫn đang trong giai đoạn áp thuế.
Riêng trong năm 2014, mặt hàng sợi nhân tạo của Việt Nam bị kiện chống bán phá giá và chịu mức thuế từ 20% tới 30%; cuối năm này, phía Thổ Nhĩ Kỳ đã ra quyết định điều tra tự vệ đối với mặt hàng điện thoại di động và điều tra chống lẩn thuế chống bán phá giá hai mặt hàng đá granite và ống thép inox.
Kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ tăng đều sau mỗi năm và Việt Nam liên tục xuất siêu ở mức rất cao sang Thổ Nhĩ Kỳ. Trong năm 2014, kim ngạch nhập khẩu của nước này từ Việt Nam là 2,009 tỷ USD và xuất khẩu sang Việt Nam 168,1 triệu USD. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2,178 tỷ USD, tăng 22,7% so với mức kim ngạch 1,774 tỷ USD của năm 2013.
