Thực hiện AFTA - Giờ đã điểm và những tính toán thiệt hơn

Vậy là đã đến ngưỡng cửa của năm 2003. Trong những năm qua, trên các phương tiện truyền thông đại chúng hay trong các cuộc hội nghị, hội thảo về phát triển kinh tế đất nước, người ta luôn nhắc đến năm

Khu vực mậu dịch tự do được hiểu là khu vực gồm hai hay nhiều quốc gia hoặc cùng lãnh thổ tham gia, trong đó thuế quan và các qui định hạn chế thương mại được xoá bỏ về cơ bản trong trao đổi thương mại các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ lập thành Khu vực mậu dịch (theo Điều 24-8b, Hiệp định GATT năm 1947, kết quả vòng đàm phán Uruguay về Hệ thống thương mại đa biên). Trên thế giới, quá trình quốc tế hoá đang tiếp tục diễn ra với qui mô ngày càng lớn và với tốc độ cao trong tất cả các lĩnh vực. Quá trình quốc tế hoá này diễn ra ở những cấp độ khác nhau với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá, thể hiện ở việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực với các hình thức đa dạng như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC)… Xu hướng quốc tế hoá đặt ra một yêu cầu tất yếu là mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực để phát triển bền vững.

AFTA-tên viết tắt của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area), bao gồm 10 nước ASEAN. Để hoàn thành AFTA, các nước ASEAN cùng thực hiện Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung-CEPT (Common Effective Preferential Tariffs). Theo đó, các nước ASEAN sẽ dần dần cắt giảm thuế quan xuống từ 0-5%, dỡ bỏ các rào cản thương mại và hài hoà hoá các thủ tục hải quan trong vòng 10 năm để hàng hoá được tự do lưu thông giữa các nước thành viên. Mục đích của AFTA là tăng cường buôn bán trong nội khối ASEAN bằng việc cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ các hàng rào thương mại; biến  ASEAN thành khu vực hấp dẫn ĐTNN để hợp lý hoá và chuyên môn hoá sản xuất trong khu vực, khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế trong ASEAN.

Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với một trình độ phát triển kinh tế thấp hơn so với 6 nước thành viên ASEAN đã gia nhập trước (gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore). Vì vậy nếu chỉ xét về việc tham gia AFTA đối với một nước thành viên như Việt Nam, các thuận lợi và khó khăn cần được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế vĩ mô và với một tầm nhìn dài hạn hơn, vượt qua mốc năm 2006, bởi vì lúc đó, phần lớn số dòng thuế của ta đã phải cắt giảm xuống còn 0%.

Đứng trước “cột mốc” là năm 2003, đã có không ít những băn khoăn và lo lắng của các doanh nghiệp khi phải cạnh tranh với hàng nhập thuế thấp. Tuy nhiên, có một điều ít thấy được nói tới ở một góc nhìn ngược lại, đó là tại sao Việt Nam lại không thể tận dụng được thuế suất thấp mà 6 nước ASEAN đã bắt đầu giảm mạnh từ năm 2002? Và tại sao chúng ta chỉ lo chống chọi với hàng nhập, trong khi lại không nhắc đến một thuận lợi của AFTA là hàng của Việt Nam xuất sang 6 nước kia đã có thể hưởng thuế suất thấp trong mấy năm trước khi đến lượt chúng ta giảm thuế. Kể từ 1/1/2002, 6 nước ASEAN gia nhập trước đã cơ bản làm xong việc cắt giảm thuế theo cam kết AFTA, thuế suất hầu hết đã ở mức 0-5%, riêng Singapore đã giảm xuống còn 0%. Thế nhưng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước này đã không tăng mà còn giảm mạnh (?). Trong 6 tháng đầu năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN là 1,166 tỷ USD, chỉ chiếm 15,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, toàn quốc giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2001. Trong khi năm 2000, xuất khẩu của Việt Nam vào ASEAN là 2,6 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch. Thuế giảm, nhưng không xuất khẩu thêm được hàng hoá, như vậy chúng ta vẫn chưa tận dụng được cơ hội. Vấn đề đáng nói là nước ta vẫn chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng nông sản chưa qua chế biến, là loại hàng nhiều nước trong khu vực xếp vào danh mục chưa giảm thuế, thậm chí không giảm (vì họ cũng có lợi thế như chúng ta) và đến năm 2003 hay những năm tiếp theo, đối với nước ta, tình hình này cũng không có gì sáng sủa hơn. Ngay cả Thái Lan, mặt hàng nông nghiệp cũng nằm chung tình trạng như ta. Tất nhiên, chuyện tăng lượng hàng bán vào một nước không chỉ có yếu tố thuế mà còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, có điều là khi chúng ta chưa thực hiện AFTA trong những năm trước, buôn bán giữa ASEAN và Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều.

Rõ ràng là việc tận dụng AFTA không phải là chuyện dễ dàng gì. Khi xuất khẩu, muốn được hưởng thuế thấp theo cam kết, doanh nghiệp phải chứng minh hàng của mình có xuất xứ từ nước thành viên của ASEAN bằng chứng nhận Form D. Đây là mẫu tờ khai hải quan chung cho hàng hoá thuộc diện CEPT-Giấy chững nhận xuất xứ (C/O) theo mẫu D (Form D) để xác định mặt hàng đó có ít nhất 40% hàm lượng của ASEAN. Tổng lượng hàng xuất của Việt Nam trong năm 2001 có kèm Form D chỉ đạt 49,2 triệu USD, một con số quá nhỏ bé.

Giải thích cho những khó khăn và thách thức khi thực hiện CEPT, chỉ có thể bắt đầu từ các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp, việc tham gia ngày càng sâu vào AFTA (và sau này là APEC, WTO) sẽ là một cơ hội lớn, đồng thời cũng là thách thức lớn. Các doanh nghiệp chưa thực sự ý thức và hiểu hết những cơ hội đang chờ đợi họ trong quá trình hội nhập kinh tế, một số doanh nghiệp vẫn chưa từ bỏ tư tưởng ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nước, cho nên vẫn chưa chủ động sắp xếp lại sản xuất kinh doanh để tận dụng cơ hội, đối phó với thách thức khi hội nhập…

Nhưng tình hình sẽ khác kể từ năm 2003, khi Việt Nam giảm mạnh thuế cho các loại hàng nhập nhiều từ ASEAN mà trước đây được bảo hộ bằng hàng rào thuế cao. Cơ cấu hàng hoá của ASEAN gần giống nhau, nhiều nhà nghiên cứu đã từng cho rằng, AFTA không giúp các nước thành viên hỗ trợ nhau mà chỉ tạo một sân chơi cho các công ty đa quốc gia đang đóng trên địa bàn, sắp xếp lại đầu tư của mình sao cho hợp lý nhất. Xét cho cùng thì việc buôn bán của khu vực sôi động nhất cũng từ những động thái của các công ty đa quốc gia này. Do đó, một nỗi lo nữa là khi thực hiện AFTA, không cẩn thận sẽ có nhiều nhà ĐTNN bỏ Việt Nam mà đi nước khác. Trước đây khi đầu tư vào Việt Nam, những nhà ĐTNN phải chịu khá nhiều “phiền toái”, nhưng bù laị họ được hưởng mức thuế suất ưu đãi và bán hàng vào thị trường nội địa được bảo vệ bằng thuế suất cao. Nay thuế giảm, họ sẽ đầu tư vào nơi nào có lợi hơn, vì lúc đó, chuyện thuế không còn là yếu tố phải cân nhắc nữa.

Một đặc điểm và là chỗ yếu của các nước ASEAN là hàng nông sản chưa chế biến, nên bị đưa vào danh mục loại trừ, phải chăng Việt Nam cũng nên làm như vậy đối với những điểm yếu của mình. Hàng nông nghiệp của ta nhiều, nhưng chưa hưởng thuế ưu đãi, còn hàng công nghiệp vẫn chưa cạnh tranh được. Vì vậy, chúng ta vẫn phải dựa vào các công ty đa quốc gia và chính họ sẽ là đầu tàu để xuất khẩu hàng Việt Nam vào các nước ASEAN, giúp chúng ta tận dụng được cơ hội khi thực hiện AFTA.

  • Tags: