Thực tiễn hoạt động KHCN trong lĩnh vực cơ khí chế tạo ở Việt Nam

NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO VIỆT NAM Đánh giá đúng đắn vị trí quan trọng của ngành Cơ khí chế tạo máy trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cũng như “vai trò động lực” của hoạt động KHCN đối với sự phát triển c

Tuy nhiên, chỉ từ năm 1991 trở lại đây, KHCN chế tạo máy mới thực sự trở thành một trong những Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, với mức đầu tư vốn Ngân sách nhà nước cho các chương trình KHCN chế tạo máy giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Cụ thể:

- Giai đoạn 1991-1995: Chương trình “Công nghệ mới trong chế tạo máy và thiết bị” mã số KC.04. Chương trình gồm 17 Đề tài với tổng kinh phí được cấp 7.410 triệu đồng.

- Giai đoạn 1996-2000: Chương trình “Công nghệ chế tạo máy”, mã số KHCN- 05. Chương trình có 12 Đề tài, 3 Dự án sản xuất thí nghiệm với tổng kinh phí được cấp 18.083 triệu đồng. Tổng kinh phí thu hồi là 5.280 triệu đồng.

- Giai đoạn 2001- 2005: Chương trình “Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chế tạo máy”, mã số KC.05. Chương trình thực hiện 29 Đề tài và 13 Dự án SXTN với tổng kinh phí ngân sách nhà nước được duyệt là 83.508 triệu đồng. Tổng kinh phí thu hồi 27.131 triệu đồng.

- Giai đoạn 2006- 2010: Chương trình “Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ cơ khí chế tạo”, mã số KC.05/06-10. Cho đến nay, Chương trình đã và đang tổ chức thực hiện 18 đề tài và 06 Dự án SXTN với tổng kinh phí ngân sách nhà nước được duyệt là 87.942 triệu đồng.

Ngoài các Chương trình KHCN cơ khí chế tạo trọng điểm cấp Nhà nước được xây dựng cho từng giai đoạn 5 năm bám sát theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn của đất nước, Nhà nước còn đầu tư kinh phí cho hoạt động KHCN trong lĩnh vực cơ khí chế tạo thông qua các Chương trình kinh tế-kỹ thuật, các đề tài/dự án độc lập, các dự án KHCN hỗ trợ cho các dự án đầu tư chế tạo các sản phẩm lớn của các doanh nghiệp như Dự án Thiết bị đồng bộ cho nhà máy xi măng công suất 1 triệu tấn/năm, nhà máy thủy điện công suất 20÷30 Mw, chế tạo tàu chở dầu 100.000 tấn, chế tạo dàn khoan tự nâng 60 m nước...

Trong hơn 20 năm qua, mặc dù ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ đã chú ý đầu tư cho KHCN chế tạo máy ngày một tăng, thậm chí với mức độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP của đất nước. Chỉ tính riêng các Chương trình KHCN cơ khí chế tạo thì tổng kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho Chương trình KHCN cơ khí chế tạo máy giai đoạn 2001-2005 gấp 11,3 lần tổng kinh phí được cấp trong giai đoạn 1991-1995. Kinh phí cấp bình quân cho 1 đề tài/dự án trong giai đoạn 2006-2010 cho đến nay là 3.664 triệu đồng, gấp hơn 8 lần kinh phí cho 1 đề tài/dự án giai đoạn 1991-1995. Nội dung KHCN của các đề tài/ dự án ngày một rõ nét hơn, gắn với sản xuất hơn, chất lượng của các đề tài/dự án cũng ngày một nâng cao. Tỷ lệ giữa số lượng đề tài với số lượng dự án sản xuất thử nghiệm cũng thay đổi theo chiều hướng ngày càng tăng số dự án sản xuất thử nghiệm, đặc biệt, là các dự án SXTN được phát triển trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các đề tài dự án của Chương trình KHCN. Cơ quan chủ trì dự án SXTN trước đây thường là các trường Đại học, các Viện nghiên cứu thì  nay phần lớn là các cơ sở sản xuất. Điều này cho phép tăng khả năng rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, nhanh chóng đưa kết quả KHCN vào sản xuất kinh doanh thương mại. Đối tượng tham gia thực hiện các nhiệm vụ KHCN thuộc các Chương trình, các dự án KHCN lớn do Nhà nước cấp kinh phí trước đây chỉ bó hẹp trong các Viện, trường, DNNN thì nay đã có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác. Trong những năm gần đây, hệ thống pháp luật liên quan tới hoạt động KHCN cũng ngày một hoàn chỉnh hơn. Luật KHCN, luật Sở hữu trí tuệ, luật Chuyển giao công nghệ và gần đây nhất luật Công nghệ cao vừa được Quốc hội thông qua đã tạo những hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho những người làm nghiên cứu KHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quốc tế trong KHCN, thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá hoạt động KHCN.

II. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC:

Thông qua những kết quả thu được từ các hoạt động KHCN trong thời gian qua, đặc biệt trong 20 năm trở lại đây, chúng ta có thể nhận thấy, hoạt động KHCN ngày càng có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành Cơ khí chế tạo Việt Nam. Có thể kể ra đây những tác động cơ bản sau:

(1). Góp phần nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về vai trò của KHCN, đẩy mạnh mức độ xã hội hoá trong hoạt động KHCN.

Do tính cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, vai trò hỗ trợ doanh nghiệp của Nhà nước không còn nữa, để tồn tại và phát triển, các DN cảm thấy cần thiết phải đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ chế tạo của mình. Từ năm 2001 trở lại đây, Bộ KHCN cũng đã có nhiều biện pháp hướng nghiên cứu tới sản xuất, đi nhanh vào sản xuất. Chính hai yếu tố này đã tạo điều kiện và động lực thúc đẩy các DN đến với các Chương trình KHCN, đặc biệt là đảm nhận vai trò chủ trì các dự án SXTN hoặc các dự án KHCN lớn, gắn liền với các dự án đầu tư chế tạo các sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao như thiết bị đồng bộ cho các nhà máy xi măng, thủy điện, nhiệt điện, đóng tàu chở dầu 100.000 tấn, dàn khoan tự nâng 60 m nước... Cơ chế quản lý mới cũng đã tạo điều kiện cho các đơn vị ngoài quốc  doanh có cơ hội chủ trì các đề tài/dự án nghiên cứu KHCN thuộc các Chương trình KHCN trọng điểm quốc gia.

Do DN ngày càng quan tâm đầu tư cho hoạt động KHCN cho nên mức độ xã hội hoá trong hoạt động KHCN trong lĩnh vực cơ khí chế tạo ngày càng tăng. Tỷ lệ kinh phí của DN đầu tư cho hoạt động KHCN (đổi mới công nghệ, nghiên cứu KHCN) so với tổng chi phí cho hoạt động KHCN của DN trong năm 2004 gấp đôi năm 2000 (81% so với 40,4%). Trong khi đó, tỷ lệ kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho DNNN cũng giảm dần, từ 16,9% (năm 2000) xuống còn 4,2% (năm 2004) và tăng dần đối với DN ngoài Nhà nước từ 0,8% (năm 2000) tăng lên 1,5% (năm 2004). Tuy vậy, tổng mức kinh phí do DN đầu tư cho hoạt động KHCN của DN cũng chỉ mới chiếm 0,08% tổng doanh thu thuần của DN (theo số liệu của Tổ chức hợp tác kỹ thuật Cộng hoà Liên bang Đức GTZ thì số liệu này là 0,1%) [9]

(2). Góp phần nâng cao trình độ công nghệ cơ khí chế tạo của Việt nam

Thông qua các hoạt động KHCN, chúng ta đã xây dựng được một đội ngũ kỹ thuật tiếp nhận và nắm vững một số công nghệ mới đối với ngành cơ khí chế tạo Việt Nam như thiết kế thủy công cho các nhà máy thủy điện, thiết kế dây chuyền thiết bị đồng bộ cho nhà máy xi măng 1 triệu tấn/năm, công nghệ tự động hoá, công nghệ hàn, gia công áp lực (đặc biệt là công nghệ hàn, giá công  áp lực các chi tiết lớn, hàn, cắt tự động), công nghệ đúc (đặc biệt các công nghệ đúc sạch, đúc chính xác, đúc gang cầu và các hợp kim, đối với các chi tiết lớn), công nghệ tạo mẫu nhanh, công nghệ kiểm soát, đánh giá tình trạng máy móc đang hoạt động, xây dựng và ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong thiết kế, gia công (CAD/CAM), mô phỏng, điều khiển quá trình công nghệ.

(3). Tạo ra các sản phẩm mới, giúp các DN chiếm lĩnh thị trường trong nước, thay thế nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu.

Những số liệu thống kê cho thấy, nếu như vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ trước, ngành Cơ khí mới chỉ đáp ứng 8÷10% nhu cầu trong nước, thì đến những năm gần đây, con số này đã đạt 40%. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành Cơ khí đạt 40%/năm. Đặc biệt, theo báo cáo của Bộ Công Thương, năm 2007 ngành Cơ khí được xếp vào nhóm sản phẩm đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 120% so với năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,2 tỷ USD. Tổng giá trị sản xuất CN của ngành Cơ khí năm 1995 là 13.839 tỷ đồng, còn hiện nay, theo Hiệp Hội DNCK Việt Nam là khoảng 113.317 tỷ đồng (gấp hơn 8 lần).

Những kết quả khả quan này có được chủ yếu là do chính sách chú trọng phát triển ngành cơ khí của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua, những cố gắng đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ của các DN, các Viện nghiên cứu ứng dụng thông qua các hoạt động KHCN của các DN, thực hiện các nhiệm vụ KHCN của các Chương trình KHCN, các dự án KHCN thuộc lĩnh vực cơ khí chế tạo trong những năm qua.

4. Góp phần đào tạo đội ngũ cán bộKHCN cơ khí chế tạo cho các trường Đại học, Viện nghiên cứu và đặc biệt là các DN

Có thể kể ra đây một số điển hình:

 - Chương trình KC.05 giai đoạn 2001- 2005 đã góp phần đào tạo được 2 tiến sĩ, hàng chục thạc sỹ... cho các chuyên ngành cơ khí chế tạo mới.

- Công ty Cơ khí Hà Nội thông qua các đề tài, dự án về tự động hoá đã tập hợp được một lực lượng cán bộ kỹ thuật đủ để thành lập trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ tự động hoá trong Công ty và mở một lớp chuyên ngành tự động hoá trong Trường Trung học công nghệ chế tạo máy của Công ty.

- Viện Nghiên cứu Cơ khí - Bộ Công Thương (NARIME) thông qua các dự án thủy điện và hợp tác quốc tế đã xây dựng được một đội ngũ tính toán, thiết kế thiết bị thủy công giỏi phục vụ các công trình thủy điện.

- Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Bách khoa TP. Hồ Chí Minh cũng đã thông qua những đề tài, dự án của các Chương trình KHCN cơ khí chế tạo, chủ nhiệm các đề tài, dự án đã tham gia biên soạn giáo trình và đào tạo nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, các kĩ sư cho các chuyên ngành mới như tự động hoá, máy công cụ điều

khiển tự động, tạo mẫu nhanh.

(5). Tạo sự gắn kết trong hoạt động KHCN cơ khí chế tạo máy giữa các Viện nghiên cứu, các Trường đại học, các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Trong những năm gần đây, các đề tài/dự án thuộc các chương trình KHCN cơ khí chế tạo trọng điểm quốc gia hay các dự án KHCN độc lập thường thu hút nhiều cơ sở nghiên cứu và sản xuất cùng thực hiện. Chính sự kết hợp này đã làm tăng sức mạnh nội sinh của đội ngũ KHCN cơ khí chế tạo trong nước và tạo điều kiện thuận lợi để tiếp nhận các công nghệ mới từ bên ngoài. Đơn cử như: sự kết hợp giữa các thầy của  Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các cán bộ kỹ thuật Công ty Đá mài Hải Dương đã tạo ra sản phẩm đá mài cao tốc; kết hợp giữa các tiến sĩ, kỹ sư của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các chuyên

gia Đài Loan đã chế tạo được máy phay CNC 5 trục đầu tiên ở Việt Nam, tạo tiền đề cho Dự án sản xuất thử nghiệm máy phay CNC mà Công ty BKMEC đang thực hiện.

(6). Rút ngắn thời gian từ nghiên cứu đến sản xuất

Với quy chế tuyển chọn và giám sát như hiện nay, trong các chương trình KHCN cơ khí chế tạo đã không còn những công trình nghiên cứu “bỏ tủ’’ nữa. Hầu hết các sản phẩm của các đề tài là các sản phẩm cụ thể. Các đề tài có kết quả tốt, có thị trường lại tiếp tục được tạo  điều kiện thuận lợi để xây dựng thành các dự án sản xuất thử nghiệm. Vì vậy, thời gian đưa sản phẩm nghiên cứu đến sản xuất thử nghiệm giảm đi rất nhiều.

(7). Góp phần làm tăng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các Viện, Trường, các Doanh nghiệp tham gia các Chương trình KHCN cơ khí chế tạo.

Đây là nét đặc thù của các Chương trình KHCN cơ khí chế tạo. Vì sản phẩm nghiên cứu là các máy móc, thiết bị có giá trị, vì vậy đã giúp các cơ sở tăng cường tiềm lực nghiên cứu, tiềm lực sản xuất của mình. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện các đề tài nghiên cứu, các đơn vị chủ trì còn được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí dùng để mua sắm các thiết bị nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường cần thiết. Theo thống kê, chỉ riêng Chương trình KC.05, giai đoạn 2001- 2005, số kinh phí dùng cho mua sắm trang thiết bị thử nghiệm, đo lường là 6.448 triệu đồng (chiếm 8,5% tổng kinh phí của Chương trình). Đó là chưa kể đến giá trị của những thiết bị được tạo ra trong quá trình nghiên cứu như máy phay P12 CNC, máy phay M200 CNC, máy tiện bàn nghiêng L120 CNC, máy  ép thủy lực 400 tấn có điều khiển PLC... mà các cơ sở đã tự trang bị cho mình hoặc cung cấp cho các đơn vị khác.

Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu ở trên, họat động KHCN, đặc biệt là hoạt động nghiên cứu triển khai của lĩnh vực cơ khí chế tạo trong thời gian qua cũng còn những tồn tại như: Trình độ và chất lượng nghiên cứu còn thấp; Quản lý KHCN còn xơ cứng; Nguồn nhân lực KHCN ngành cơ khí chế tạo thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa khai thác hiệu quả nguồn tri thức của nhân loại; Doanh nghiệp cơ khí chế tạo phần lớn thuộc loại nhỏ và siêu nhỏ, vốn ít, năng suất lao động thấp nên không có khả năng đầu tư lớn, dài hạn cho KHCN; Hệ thống phòng thí nghiệm thiếu đồng bộ, kém hiệu quả; Chưa xây dựng được nếp sống văn hóa công nghiệp trong các cơ sở cơ khí chế tạo; Thiếu chiến lược phát triển dài hạn cho KHCN nói chung cũng như cho ngành cơ khí chế tạo nói riêng.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT.

(1). Nên chuyển kinh phí hoạt động KHCN vào Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia. Quỹ sẽ đảm nhận  chức năng quản lý và điều tiết kinh phí cho các đề tài/dự án KHCN. Nếu làm được điều này sẽ giải quyết được 2 tồn tại hiện nay:

- Các Chương trình sẽ “mở”, các đề  tài/dự án sẽ không phải quyết toán theo năm mà quyết toán theo nội dung thực hiện.

- Khoản kinh phí 2% ngân sách nhà nước dành cho hoạt động KHCN sẽ chuyển vào Quỹ. Nếu trong năm kế hoạch chưa dùng hết thì để tồn sang năm sau sử dụng cho những đề tài/dự án lớn, không phải trả lại Nhà nước.

(2). Không nên quy định thời gian cứng cho một đề tài/dự án. Hãy để nội dung và đối tượng nghiên cứu quyết định. Hội đồng tư vấn KHCN sẽ giúp thẩm định vấn đề này.

(3). Theo TS.Nguyễn Quân thì “phải đổi mới về cơ chế tài chính. Cho phép các nhà khoa học có quyển tự chủ cao hơn trong sử dụng kinh phí Nhà nước. Không nên quyết toán theo năm tài chính mà theo thời gian nghiên cứu. Cho phép họ được linh hoạt chuyển đổi thuận lợi nội dung nghiên cứu, tạo điều kiện cho họ đi trao đổi khoa học ở nước ngoài cũng như mời chuyên gia nước ngoài vào hợp tác nghiên cứu trong nước.

(4). Không nên thu hồi khoản kinh phí ngân sách hỗ trợ dự án SXTN.

(5). Nhà nước nên “đặt hàng’’ cho KHCN - ví dụ: xác định các dự án KHCN lớn, các sản sản phẩm quốc gia giao cho một nhóm các nhà nghiên cứu - sản xuất thực hiện.

(6). Không nên chuyển đổi tất cả các Viện thành Doanh nghiệp KHCN. Chỉ nên cho các Viện nghiên cứu cơ chế: Khi thực hiện các hợp đồng kinh thế thì các Viện được hưởng các quy chế như một DN, tức là được thế chấp tài sản hoặc dùng tín chấp để vay ngân hàng thực hiện các Hợp đồng của mình.

(7). Cần có các giải pháp đẩy nhanh tiến trình “tập trung vốn” của các Doanh nghiệp cơ khí chế tạo. Nếu cứ để manh mún như hiện nay, rất khó có thể tiến hành đổi mới hoặc nâng cấp công nghệ.

(8). Phải xây dựng chiến lược phát triển cho KHCN nói chung cũng như cho ngành Cơ khí chế tạo nói riêng với tầm nhìn ít nhất đến 2030.

  • Tags: