Vai trò của kinh tế tuần hoàn trong động lực phát triển kinh tế bền vững: Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài nghiên cứu "Vai trò của kinh tế tuần hoàn trong động lực phát triển kinh tế bền vững: Hàm ý chính sách cho Việt Nam" do Đỗ Thanh Thảo (Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Văn Lang; Email: thao.dt@vlu.edu.vn) thực hiện.

Tóm tắt:

Bài viết phân tích vai trò của kinh tế tuần hoàn (Circular Economy - CE) như một động lực then chốt cho phát triển kinh tế bền vững, tập trung vào bối cảnh Việt Nam. Dựa trên khung lý thuyết tăng trưởng xanh và mô hình 5R (Reduce - Reuse - Recycle- Rethink- Recover), nghiên cứu chỉ ra CE không chỉ giúp giảm áp lực lên tài nguyên và môi trường mà còn tạo ra giá trị kinh tế mới thông qua đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu và phát triển chuỗi cung ứng bền vững. Bằng đánh giá thực trạng chính sách và thực tiễn tại Việt Nam, bài viết xác định những thành công bước đầu (như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, mô hình tái chế tại một số khu công nghiệp) cùng các hạn chế (thiếu khung pháp lý đồng bộ, công nghệ tái chế lạc hậu, rào cản tài chính).

Từ khóa: kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng kinh tế, kinh tế, chính sách, tăng trưởng.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được đề cập lần đầu bởi Pearce và Turner (1990) như một phản biện đối với mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ”. Đến nay, tồn tại hơn 100 cách tiếp cận khác nhau về khái niệm này, phản ánh tính đa chiều và liên ngành của KTTH. Về bản chất, KTTH được hiểu là một hệ thống kinh tế - công nghiệp có tính phục hồi và tái tạo theo thiết kế, hướng tới tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên thông qua kéo dài vòng đời sản phẩm, tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu chất thải. Theo UNIDO, KTTH là cách thức tạo ra giá trị bằng việc kéo dài vòng đời của sản phẩm; trong khi Ghisellini et al. (2016) nhấn mạnh KTTH không chỉ là mô hình kinh doanh mà còn là chiến lược phát triển bền vững, tích hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường.

Tại Việt Nam, theo khoản 1 Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường 2020, KTTH được định nghĩa là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác tài nguyên, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế phát sinh chất thải và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Như vậy, KTTH hướng tới tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi khai thác tài nguyên hữu hạn, đồng thời góp phần giảm ô nhiễm và thúc đẩy phát triển bền vững. Việt Nam được đánh giá có tiềm năng trở thành quốc gia dẫn đầu về KTTH trong khu vực ASEAN.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung nhận diện các yếu tố then chốt tác động đến kinh tế tuần hoàn (KTTH) tại Việt Nam và đề xuất hàm ý chính sách phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai thông qua khảo sát 300 đối tượng làm việc trong khu vực nhà nước và doanh nghiệp sản xuất. Mục tiêu của phương pháp này là nhằm nhận diện các yếu tố then chốt và xây dựng khung phân tích dựa trên mô hình 5R bao gồm: 

  1. Reduce - giảm thiểu sử dụng tài nguyên, năng lượng và phát sinh chất thải
  2. Reuse - kéo dài vòng đời sản phẩm thông qua tái sử dụng và dịch vụ bảo trì;
  3. Recycle - chuyển đổi chất thải thành tài nguyên thông qua công nghệ;
  4. Rethink - tái định hình tư duy thiết kế và sản xuất theo hướng thân thiện môi trường;
  5. Recover/Refuse - thu hồi giá trị từ chất thải và hạn chế tiêu dùng các sản phẩm không bền vững.
kinh te

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy KTTH đã được triển khai ở nhiều lĩnh vực: trong nông nghiệp, mô hình VAC phát triển theo hướng tuần hoàn khép kín, hiện được nâng cấp với công nghệ sinh học. Trong công nghiệp, các khu công nghiệp sinh thái và mô hình đô thị không rác thải góp phần nâng cao hiệu quả tài nguyên. Trong tiêu dùng và tái chế, các sáng kiến doanh nghiệp và làng nghề truyền thống bước đầu thúc đẩy tái chế và sản xuất bền vững, dù tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng thành công còn hạn chế. Tổng thể, các kết quả cho thấy, tiềm năng phát triển KTTH tại Việt Nam là đáng kể nhưng cần được hỗ trợ bởi chính sách và công nghệ phù hợp.

3. Vai trò của kinh tế tuần hoàn trong động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

3.1. Kinh tế tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) ngày càng được khẳng định là một mô hình phát triển ưu việt so với kinh tế tuyến tính, nhờ khả năng tạo ra đồng thời các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường. Theo các nghiên cứu quốc tế (Ellen MacArthur Foundation), KTTH có thể giúp giảm đáng kể nhu cầu khai thác tài nguyên nguyên sinh và tạo ra hàng nghìn tỷ USD giá trị kinh tế toàn cầu vào năm 2030.

Xét theo chủ thể, KTTH mang lại lợi ích đa chiều. Đối với quốc gia, mô hình này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm phụ thuộc vào tài nguyên hữu hạn và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng KTTH có thể giúp giảm tới 30-50% lượng chất thải và khí phát thải trong một số ngành công nghiệp. Đối với xã hội, KTTH thúc đẩy hình thành các thị trường mới, đặc biệt trong lĩnh vực tái chế và công nghệ môi trường, đồng thời tạo việc làm xanh; theo ước tính của International Labour Organization (2018), chuyển đổi sang KTTH có thể tạo thêm hàng triệu việc làm toàn cầu vào năm 2030. Đối với doanh nghiệp, KTTH giúp tối ưu chi phí đầu vào, giảm rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng và thúc đẩy đổi mới công nghệ, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng thị trường.

Xét về sử dụng nguồn lực, KTTH đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả tài nguyên thông qua tái sử dụng, tái chế và khép kín vòng đời vật chất. Mô hình này cho phép chuyển hóa chất thải của ngành này thành đầu vào của ngành khác, qua đó giảm tiêu thụ nguyên liệu thô và chi phí sản xuất. Đồng thời, KTTH góp phần giảm phát thải khí nhà kính, hỗ trợ mục tiêu trung hòa carbon và bảo vệ hệ sinh thái. Không chỉ dừng ở việc tái chế, KTTH còn thiết lập các liên kết có chủ đích giữa các hoạt động kinh tế, kéo dài vòng đời vật liệu và phục hồi giá trị tài nguyên ở cuối chu kỳ sử dụng.

Tổng thể, KTTH không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là định hướng chiến lược nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng phát triển, đảm bảo tiêu dùng và sản xuất bền vững, đồng thời giải quyết hiệu quả các vấn đề môi trường và xã hội trong dài hạn.

3.2. Phát triển bền vững

Phát triển bền vững trong khuôn khổ KTTH tại Việt Nam đang trở thành định hướng chiến lược trong bối cảnh gia tăng ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng các cam kết về môi trường đã tạo áp lực và động lực để Việt Nam chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang KTTH, nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội.

KTTH thúc đẩy phát triển bền vững thông qua việc tái cấu trúc hệ thống sản xuất và tiêu dùng theo mô hình khép kín, dựa trên nguyên tắc 5R (Reduce, Reuse, Recycle, Rethink, Refuse/Recover). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam với mẫu khảo sát 450 đối tượng tại 30 tỉnh thành, sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM), cho thấy yếu tố “Giảm thiểu” có tác động mạnh nhất đến sự phát triển KTTH (mức ý nghĩa 1%). Điều này hàm ý việc kiểm soát đầu vào tài nguyên và hạn chế phát sinh chất thải đóng vai trò nền tảng trong quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế bền vững.

Về mặt thực tiễn, KTTH tại Việt Nam đã bước đầu được triển khai trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp và tái chế, góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và tạo ra giá trị kinh tế mới. Đồng thời, KTTH còn hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải carbon, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đối mặt với các hạn chế như khung pháp lý chưa hoàn thiện, hạn chế về công nghệ và nhận thức.

Do đó, để thúc đẩy phát triển bền vững dựa trên KTTH, Việt Nam cần xây dựng lộ trình pháp lý rõ ràng, hoàn thiện thể chế, phát triển công nghệ tái chế - tái sử dụng, đồng thời nâng cao nhận thức và năng lực của doanh nghiệp và xã hội. Tổng thể, KTTH không chỉ là giải pháp môi trường mà còn là động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững và chuyển đổi mô hình kinh tế trong dài hạn.

4. Thực trạng kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Bảng 1. Thực trạng phân loại rác tại nguồn và thu gom tái chế tại một số đô thị lớn

kinh te

Nguồn: Tổng hợp từ Sở Tài nguyên Môi trường các tỉnh, Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia 2025

Dựa trên số liệu Bảng 1, thực trạng phân loại rác tại nguồn ở 4 đô thị lớn còn rất thấp, cao nhất chỉ 35% (Đà Nẵng) và thấp nhất 15% (Cần Thơ). Tỷ lệ thu gom rác sinh hoạt tương đối cao (75-92%) nhưng chưa đi đôi với phân loại hiệu quả. Đặc biệt, tỷ lệ tái chế rác thải nhựa rất hạn chế, chỉ từ 8% đến 20%, cho thấy lãng phí lớn nguồn tài nguyên. Hình thức xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp (chiếm 40-70% tại các thành phố), ngoại trừ TP.HCM có 30% tái chế phi chính thức. Như vậy, khoảng cách giữa thu gom và tái chế phản ánh sự thiếu đồng bộ trong hạ tầng và chính sách kinh tế tuần hoàn. Để hướng tới phát triển bền vững, cần nhân rộng mô hình phân loại thành công như Đà Nẵng và giảm phụ thuộc vào chôn lấp.

Bảng 2. Mức độ thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với bao bì - khảo sát 50 doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, đồ uống 

kinh tế

Nguồn: Điều tra nhanh của tác giả đối với 50 doanh nghiệp tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6/2025

Phân tích Bảng 2 cho thấy ,việc thực thi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam còn rất hạn chế. Chỉ 36% doanh nghiệp được khảo sát đã kê khai và đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường, trong khi tỷ lệ có báo cáo thu hồi bao bì sau tiêu dùng chỉ 24% và hợp tác với đơn vị tái chế chính thức đạt 30%. Đáng chú ý, có tới 40% doanh nghiệp chưa thực hiện bất kỳ nghĩa vụ EPR nào, bất chấp quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2020. Điều này phản ánh việc hướng dẫn thi hành còn chậm, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, và hệ thống kiểm tra, giám sát còn lỏng lẻo. Hậu quả là nguồn thu cho tái chế chính thức bị thiếu hụt, phần lớn bao bì sau tiêu dùng vẫn được xử lý qua khu vực phi chính thức hoặc thải bỏ. Để EPR thực sự trở thành động lực cho kinh tế tuần hoàn, cần tăng cường thanh tra, công khai danh sách tuân thủ và xây dựng lộ trình nâng dần mức đóng góp bắt buộc.

4.1. Hạn chế

  • Thiếu khung khổ pháp lý đồng bộ cho toàn bộ vòng đời sản phẩm (thiết kế, sản xuất, thu hồi, tái chế). Các tiêu chuẩn và chứng nhận CE chưa có.
  • Công nghệ tái chế chủ yếu thủ công, lạc hậu, gây ô nhiễm thứ cấp (ví dụ tái chế nhựa và kim loại tại các làng nghề).
  • Rào cản tài chính: chi phí đầu tư cho công nghệ tuần hoàn cao, thị trường vật liệu tái chế thiếu tính thanh khoản, chưa có công cụ tín dụng xanh riêng.
  • Phân loại rác tại nguồn chưa hiệu quả do hạ tầng thu gom và nhận thức người dân còn thấp.

4.2. Nguyên nhân những hạn chế

  • Nhận thức của doanh nghiệp và chính quyền địa phương về CE vẫn nặng về xử lý cuối đường ống, chưa coi CE là cơ hội đầu tư sinh lời.
  • Hệ thống thu gom, tái chế không chính thức manh mún, thiếu sự tích hợp với kế hoạch phát triển công nghiệp.
  • Cơ chế khuyến khích thị trường (thuế, phí, trợ cấp) chưa đủ mạnh để chuyển dịch từ mô hình tuyến tính.

5. Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Để khắc phục nhận thức lạc hậu của doanh nghiệp và chính quyền địa phương, Chính phủ cần triển khai chiến dịch truyền thông và đào tạo bài bản, có mục tiêu cụ thể theo từng ngành. Các địa phương cần được tập huấn về cách tính toán suất sinh lời của đầu tư CE, chẳng hạn như chi phí xử lý chất thải giảm, doanh thu từ bán phế liệu tái chế, và lợi thế cạnh tranh khi xuất khẩu sang thị trường yêu cầu sản phẩm xanh. Đồng thời, hỗ trợ xây dựng ít nhất 10 dự án thí điểm CE ở quy mô vừa (doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, nông nghiệp) với cơ chế chia sẻ rủi ro - thành công doanh nghiệp giữ lợi nhuận, thất bại Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí. Qua đó, tạo minh chứng thực tế CE không phải gánh nặng tuân thủ mà là cơ hội cải thiện biên lợi nhuận và sức cạnh tranh. Chính quyền địa phương cũng cần được đánh giá chỉ số năng lực CE trong bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) để khuyến khích họ chủ động thúc đẩy.         

Hiện trạng các làng nghề tái chế manh mún, tự phát nhưng lại xử lý lượng lớn chất thải (ước tính 30-40% rác thải nhựa tại TP. Hồ Chí Minh) đòi hỏi giải pháp dung hòa: không cấm đoán mà tổ chức lại. Chính phủ nên giao Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương rà soát, quy hoạch các cụm liên kết thu gom - phân loại - tái chế tập trung tại các đô thị lớn và vùng nông thôn công nghiệp hóa. Trong đó, dành riêng khu vực cho hoạt động tái chế phi chính thức hiện hữu, kèm theo đầu tư hạ tầng tối thiểu (điện, nước, mặt bằng sạch, hệ thống xử lý nước thải và khí thải). Các hộ gia đình, hợp tác xã tái chế được cấp giấy phép hoạt động có thời hạn, đào tạo về an toàn lao động và tiêu chuẩn vệ sinh, đồng thời được kết nối với các nhà máy tái chế công nghiệp để bao tiêu sản phẩm đầu ra.

Các công cụ tài khóa hiện nay như thuế bảo vệ môi trường với túi nylon, thuế tài nguyên là chưa đủ sức chuyển dịch hành vi. Cần áp dụng thuế môi trường mở rộng theo nguyên tắc: đánh thuế cao hơn lên nguyên liệu thô sơ cấp (nhựa nguyên sinh, quặng sắt, cốt liệu tự nhiên) và miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu tái chế. Ví dụ, tăng thuế nhập khẩu nhựa nguyên sinh từ 1% lên 5% kết hợp với giảm thuế VAT từ 10% xuống 5% cho sản phẩm chứa ít nhất 30% nhựa tái chế. Bên cạnh thuế, cần cơ chế phí thu gom và xử lý chất thải theo khối lượng và mức độ độc hại (phân biệt rác đã phân loại tại nguồn với rác lẫn tạp chất) để người dân và doanh nghiệp có động lực giảm thải.

Các hàm ý trên chỉ có hiệu lực khi được tích hợp vào một lộ trình quốc gia rõ ràng, có mốc thời gian và chế tài. Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cần sớm xem xét sửa đổi Luật Thuế bảo vệ môi trường và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng ưu đãi có mục tiêu cho CE. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, cùng với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn đến năm 2030, trong đó xác định rõ: (i) ngành ưu tiên (nhựa, điện tử, xây dựng, nông nghiệp); (ii) chỉ tiêu bắt buộc về tỷ lệ tái chế và giảm chôn lấp; (iii) phân công trách nhiệm thanh tra, xử phạt vi phạm EPR. Định kỳ hàng năm, một hội đồng đánh giá độc lập (bao gồm chuyên gia, đại diện doanh nghiệp, tổ chức xã hội) sẽ công bố báo cáo chỉ số hiệu suất kinh tế tuần hoàn cấp tỉnh - gồm các chỉ số như tỷ lệ phân loại rác tại nguồn, tỷ lệ tái chế, mức độ thực thi EPR - và xếp hạng công khai.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, được thông qua ngày 17/11/2020 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

Paola Ghisellini, Catia Cialani và Sergio Ulgiati (2016). A review on circular economy: the expected transition to a balanced interplay of environmental and economic systems. Journal of Cleaner Production, 114, 11-32.

International Labour Organization (2018). World Employment and Social Outlook 2018: Greening with Jobs. Geneva.

Shuaiyin Ma, Wei Ding, Yang Liu et al (2024).
“Industry 4.0 and cleaner production: A comprehensive review of sustainable and intelligent manufacturing for energy-intensive manufacturing industries”. Journal of Cleaner Production, 467, 142879.

E. Raudales-Garcia, J. Acosta-Tzin, P. Aguilar-Hernández (2024).
Circular economy: A systematic and bibliometric review. Región Científica, 3(1).

Abdurrahim Abi Anwar (2025).
Circular Economy in Waste Management Research: Global Trends, Knowledge Structures, and Future Directions. International Journal of Research and Innovation in Social Science, 9(10), 2950 - 2963.

Abdelkader Rejeb, Karim Rejeb et al (2025).
When Industry 5.0 Meets the Circular Economy: A Systematic Literature Review. Circular Economy and Sustainability, 5, 2621-2652.

Muhammad Anwar, Maria E. Konnova and Sarim Dastgir (2025).
Circular plastic economy for sustainable development: current advances and future perspectives. RSC Sustainability, 3, 3724 - 3840.

 

The role of the circular economy in driving sustainable economic development: Policy implications for Vietnam

Do Thanh Thao

Faculty of Finance and Banking, Van Lang University

Abstract:

This study analyzes the role of the circular economy as a key driver of sustainable economic development, with a particular focus on Vietnam. Drawing on the green growth framework and the 5R model (Reduce, Reuse, Recycle, Rethink, Recover), the findings demonstrate that circular economy contributes to alleviating resource and environmental pressures while generating new economic value through innovation, enhanced material efficiency, and the development of sustainable supply chains. An assessment of current policies and practices in Vietnam indicates notable initial progress, including the enactment of the 2020 Law on Environmental Protection and the emergence of recycling initiatives in selected industrial zones. However, persistent constraints remain, particularly the absence of a comprehensive regulatory framework, technological limitations in recycling processes, and financial barriers to large-scale implementation.

Keywords: circular economy, economic growth, economy, policy, growth.