Xuất nhập khẩu đến giữa tháng 4/2026 vượt 297 tỷ USD, cần tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nội

Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 4/2026 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/4/2026 đạt 297,06 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, phân tích cho thấy vẫn còn khoảng cách lớn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa về năng lực cạnh tranh, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.

Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Cục Hải quan cho thấy tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2026 (từ ngày 01/4/2026 đến ngày 15/4/2026) đạt 47,37 tỷ USD, giảm 9,1% (tương ứng giảm 4,76 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 03/2026.

Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 4/2026 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/4/2026 đạt 297,06 tỷ USD, tăng 24,5%, tương ứng tăng 58,47 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2025.

Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 225,96 tỷ USD, tăng 29,5% (tương ứng tăng 51,5 tỷ USD).

Trong kỳ 1 tháng 4 năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 4,25 tỷ USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2026, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 7,9 tỷ USD.

Xuất khẩu đạt 144,58 tỷ USD

Tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2026 đạt 21,56 tỷ USD, giảm 17,2% (tương ứng giảm 4,48 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 3/2026.

Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 4/2026 giảm so với kỳ 2 tháng 3/2026 ở các nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 1,6 tỷ USD, tương ứng giảm 21,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng giảm 532 triệu USD, tương ứng giảm 15,9%; hàng dệt may giảm 415 triệu USD, tương ứng giảm 23,2%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 397 triệu USD, tương ứng giảm 15,5%...

Như vậy, tính đến hết 15/4/2026, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 144,58 tỷ USD, tăng 20,3% tương ứng tăng 24,4 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025.

Trong đó, một số nhóm hàng tăng như: máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 11,75 tỷ USD, tương ứng tăng 47,3%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 3,34 tỷ USD, tương ứng tăng 23,1%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 3,11 tỷ USD, tương ứng tăng 19,7%;... so với cùng kỳ năm 2025.

xuất nhập khẩu hàng hóa
Trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ từ 01/01/2026 đến 15/4/2026 và cùng kỳ năm 2025. (Nguồn: Cục Hải quan)

Số liệu thống kê của Cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 1 tháng 4/2026 đạt 17,47 tỷ USD, giảm 16,5% tương ứng giảm 3,45 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 3/2026. Tính đến hết ngày 15/4/2026, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp này đạt 115,81 tỷ USD, tăng 26,5%, tương ứng tăng 24,26 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 80% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.

Trước đó, phân tích của Cục Thống kê dựa trên số liệu Quý I/2026 theo khu vực kinh tế cho thấy có sự chênh lệch rất lớn về xuất khẩu giữa khu vực có vốn FDI và khu vực kinh tế trong nước. Khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3% và chiếm tới 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngược lại, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6% và tỷ trọng thu hẹp còn 19,9% (Những năm trước khu vực kinh tế trong nước thường chiếm tỷ trọng trên 25,0%).
Kim ngạch của nhóm hàng công nghiệp chế biến (chiếm tỷ trọng 89,9% tổng kim ngạch xuất khẩu Quý I/2026) tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng dẫn dắt tăng trưởng như điện tử, máy tính và linh kiện đạt 30,7 tỷ USD, tăng 45,5%; điện thoại và linh kiện đạt 16,7 tỷ USD, tăng 19,3%; máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 15,0 tỷ USD, tăng 21,2%. Đây là những mặt hàng nằm trong chuỗi sản xuất toàn cầu do các tập đoàn FDI dẫn dắt. Trong khi đó, các mặt hàng truyền thống của khu vực trong nước như dệt may, giày dép chỉ tăng nhẹ (dệt may tăng 1,9%; giày, dép tăng 0,8%); nhóm nông sản tăng, giảm đan xen, phản ánh tính dễ tổn thương trước biến động thị trường và giá cả quốc tế. Sự tương phản này cho thấy khu vực FDI thường có kim ngạch xuất khẩu lớn, tăng trưởng nhanh vì tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có công nghệ, quản trị và thị trường sẵn có. Ngược lại, khu vực trong nước xuất khẩu yếu hơn cho thấy doanh nghiệp nội địa còn hạn chế về năng lực cạnh tranh, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.

Nhập khẩu các nhóm hàng máy móc, tư liệu sản xuất tăng

Tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2026 đạt 25,81 tỷ USD, giảm 1,1% (tương ứng giảm 285 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 3/2026.

Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 4/2026 giảm so với kỳ 2 tháng 3/2026 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 235 triệu USD, tương ứng giảm 7,1%; xăng dầu các loại giảm 161 triệu USD, tương ứng giảm 17,4%...

Như vậy, tính đến hết 15/4/2026, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 152,48 tỷ USD, tăng 28,8% (tương ứng tăng 34,07 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025.

Trong đó một số nhóm hàng tăng mạnh như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 19,69 tỷ USD, tương ứng tăng 52,9%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 3,46 tỷ USD, tương ứng tăng 22,9%; xăng dầu các loại tăng 1,83 tỷ USD, tương ứng tăng 96,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ này đạt 18,61 tỷ USD, tăng 1,9% (tương ứng tăng 350 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 3/2026Tính đến hết ngày 15/4/2026, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này đạt 110,15 tỷ USD, tăng 32,9% (tương ứng tăng 27,25 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 72,2% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.

nhập khẩu
Trị giá nhập khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ 01/01/2026 đến 15/02/2026 và cùng kỳ năm 2025. (Cục Hải quan)

Các giải pháp trọng tâm để xuất nhập khẩu thực sự là động lực bền vững

Theo Cục Thống kê, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, việc chuyển sang nhập siêu phản ánh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, đồng thời cho thấy doanh nghiệp chủ động tăng dự trữ đầu vào để phòng ngừa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng. Như vậy, nhập siêu trong giai đoạn này mang tính chất ngắn hạn, gắn với chu kỳ sản xuất và yếu tố giá, đồng thời phản ánh sự chủ động thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của kinh tế toàn cầu, chưa hẳn là dấu hiệu bất thường, tiêu cực.

Mặc dù vậy, ở tầm vĩ mô, nhập siêu quay trở lại tạo áp lực lên cán cân thanh toán, tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Mức độ phụ thuộc lớn vào nhập khẩu tư liệu sản xuất khiến nền kinh tế nhạy cảm với biến động giá năng lượng, xung đột địa chính trị và thay đổi chính sách của các đối tác thương mại lớn. Đồng thời, khi phần lớn giá trị gia tăng trong xuất khẩu nằm ở khu vực FDI, tác động lan tỏa đến thu nhập, việc làm và tích lũy vốn của khu vực trong nước bị hạn chế, làm giảm hiệu quả thực chất của tăng trưởng ngoại thương đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Trong bối cảnh các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 tích cực hơn và làn sóng đầu tư vào công nghệ, sản xuất tiếp tục gia tăng, triển vọng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2026 vẫn khả quan. Xuất khẩu tiếp tục xu hướng tăng trưởng tốt nhờ tăng trưởng của các ngành điện tử, máy tính, thiết bị, phù hợp xu hướng dịch chuyển đầu tư công nghệ toàn cầu. Nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh cho thấy chu kỳ mở rộng sản xuất đang diễn ra.
Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu chỉ thực sự trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng khi trọng tâm chính sách không chỉ là thúc đẩy tăng kim ngạch mà phải nâng cao chất lượng tham gia của khu vực kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của FDI, đa dạng hóa nguồn cung nguyên vật liệu, tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới và cải thiện mạnh mẽ môi trường logistics, thương mại.

Theo đó, Cục Thống kê khuyến nghị cần tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm:
Một là, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng FDI. Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho điện tử, cơ khí chính xác, linh kiện. Xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng.
Hai là, giảm phụ thuộc nhập khẩu từ một số thị trường, đa dạng hóa nguồn cung nguyên vật liệu, linh kiện.
Ba là, tận dụng tối đa các FTA thế hệ mới, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ, mở rộng thị trường EU, CPTPP.
Bốn là, giảm chi phí logistics và thủ tục hành chính, số hóa hải quan, rút ngắn thời gian thông quan, đẩy mạnh phát triển hạ tầng cảng biển, kho bãi, vận tải đa phương thức.
Năm là, thúc đẩy xuất khẩu nhóm nông sản, thực phẩm chế biến, chuyển từ xuất thô sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc đáp ứng tiêu chuẩn cao.

Việt Hằng