Giải pháp chuyển đổi số trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ô tô, xe máy tại Vĩnh Phúc - tỉnh Phú Thọ

Bài viết Giải pháp chuyển đổi số trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ô tô, xe máy tại Vĩnh Phúc - tỉnh Phú Thọ do Vũ Tuấn Anh (Đại học Kinh tế quốc dân) thực hiện.

Tóm tắt: Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) lĩnh vực ô tô, xe máy của Phú Thọ có sự thay đổi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Đặc biệt, sau sáp nhập, việc thừa hưởng lại những doanh nghiệp FDI toàn cầu trong sản xuất ô tô, xe máy tạo môi trường thuận lợi cho ngành CNHT cơ khí, ô tô xe máy phát triển. Việc ứng dụng công nghệ số trong sản xuất là xu hướng, tuy nhiên các doanh nghiệp cần được hỗ trợ đầu tư phù hợp với năng lực sản xuất - kinh doanh để tạo sự phát triển bền vững. Nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cơ bản của doanh nghiệp trong đó có chuyển đổi số thông qua việc kết nối với các doanh nghiệp FDI hay mở rộng thị trường xuất khẩu.

Từ khóa: chuyển đổi số, công nghiệp hỗ trợ, sáp nhập, Phú Thọ, Vĩnh Phúc.

1. Đặt vấn đề

Sau khi Nghị quyết số 202/2025/QH15 được Quốc hội ban hành ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tỉnh Phú Thọ đã sáp nhập cùng với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Hòa Bình thành một tỉnh mới, gọi là tỉnh Phú Thọ, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Sau sáp nhập, tỉnh Phú Thọ đạt diện tích 9.361,38 km² và dân số khoảng 4.022.638 người. Tổng sản phẩm trên địa bàn đạt hơn 354.579 tỷ đồng. Công nghiệp chế biến chế tạo đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của địa phương và góp tới 32,2% vào quy mô kinh tế của địa phương. Trong đó, vai trò của ngành Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã thu hút được lương vốn đầu tư trong và ngoài nước tạo nên vị thế quan trọng phục vụ các nhà máy sản xuất cốt lõi tại Vĩnh Phúc và xuất khẩu. Tuy nhiên, một thực tại cho thấy sau hơn 30 năm phát triển ngành ô tô, xe máy tại Việt Nam, số lượng linh kiện ô tô mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô còn rất khiêm tốn, chỉ đạt 287 trong số 30.000 linh kiện ô tô (Thy Thảo, 2024).  

Bản thân Toyota Việt Nam, doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư sớm nhất tại Vĩnh Phúc kỷ niệm xuất xưởng chiếc xe thứ 1 triệu tại Việt Nam vào tháng 7/2025, thông báo là mới có 4 doanh nghiệp nội địa cung ứng linh phụ kiện cho công ty. Trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang hướng tới chính sách phát triển xanh, Toyota cũng cần điều chỉnh chính sách sản xuất để đáp ứng được các định hướng phát triển của Việt Nam. Mặc dù vậy, Toyota cũng khuyến cáo, việc chuyển đổi mô hình sản xuất sang dòng xe thuần điện có thể ảnh hưởng đến công ăn việc làm của nhiều lao động. Trong khi đó, các doanh nghiệp phấn đấu trở thành nhà cung ứng cho Toyota cũng sẽ phải thay đổi để đáp ứng được nhu cầu của Toyota. Trước những thay đổi như vậy, tỉnh Phú Thọ cần có những quyết sách cụ thể để hỗ trợ cho các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn đáp ứng được yêu cầu của Toyota và chính sách phát triển của Nhà nước. Đây là một thách thức không hề nhỏ đối với địa phương trong thời gian tới. Trong khung khổ nghiên cứu, bài viết này sẽ đề xuất một số chính sách, để tỉnh có thể xem xét và cân nhắc đưa vào triển khai trong thực tế.

2. Thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ tỉnh Phú Thọ

Trong những năm gần đây, Phú Thọ đã xây dựng được những KCN với hạ tầng đồng bộ, hiện đại, qua đó cải thiện được năng lực thu hút các dự án FDI. Sau sáp nhập, tỉnh Phú Thọ càng có thêm lợi thế khi thừa hưởng được những thành quả mà Vĩnh Phúc đã gây dựng. Cho đến thời điểm hiện nay, Vĩnh Phúc vẫn là vùng lõi thu hút các doanh nghiệp FDI cho tỉnh Phú Thọ do có đường giao thông thuận tiện, liền kề với Thủ đô, và gần sân bay quốc tế Nội Bài. Chính vì những điều kiện trên, tỉnh Vĩnh Phúc cũ đã có những chính sách thu hút các doanh nghiệp hàng đầu của thế giới đến đầu tư, bao gồm cả những doanh nghiệp toàn cầu chuyên sản xuất ô tô, xe máy.

Số liệu thống kê cho thấy, riêng Vĩnh Phúc có khoảng 400 doanh nghiệp CNHT, trong đó có khoảng 70 doanh nghiệp cung cấp linh phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI lớn như Honda, Toyota, Piaggo, HonHai, Compal, Daewoov.v…. Hiện nay, tỷ lệ các linh kiện xe máy đã được các doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ trừ việc sản xuất động cơ. Tuy nhiên, việc sản xuất ô tô không đơn giản như sản xuất xe máy. Tính đến năm 2025, tỷ lệ nội địa hóa các linh kiện ô tô còn đang thấp dưới 20%. Trong khi đó, theo cam kết của các doanh nghiệp FDI sản xuất ô tô, đến năm 2020 tỷ lệ nội địa hóa đạt tối thiểu 40%. Nguyên nhân chưa đạt được tỷ lệ này được môt số chuyên gia đề cập đến đó là thị trường nội địa chưa thực sự quan tâm đến xe sản xuất trong nước, nhiều khách hàng vẫn tin tưởng vào dòng xe nhập khẩu. Chính vì lẽ đó, các hãng sản xuất xe ô tô tại Việt Nam chưa có nhiều động lực chuyển giao công nghệ hay tìm kiếm các nhà cung cấp tại thị trường Việt Nam. Tính đến năm 2024, riêng Vĩnh Phúc có hơn 574 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực CNHT có thể cung cấp các sản phẩm phục vụ thị trường và được phân chia theo các ngành như sau: (Bảng 1)

Bảng 1. Số lượng doanh nghiệp CNHT tại Vĩnh Phúc (cũ)
Bảng 1. Số lượng doanh nghiệp CNHT tại Vĩnh Phúc (cũ) (Nguồn: Cục Thống kê, 2025)

Số liệu tại Bảng 1 cho thấy, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Kim loại và Cơ khí chiếm phần lớn (64,5%), tiếp theo là các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thuộc ngành Nhựa & cao su (14,2%), tiếp đến là ngành Linh kiện điện tử (13,5%), và tiếp nối là Thiết bị điện, dây dẫn (2,8%). Hầu hết các doanh nghiệp nêu trên đều thuộc doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn về vốn sản xuất và thiếu quy trình sản xuất bài bản. Do vậy, các doanh nghiệp nêu trên bị hạn chế về dây chuyền tự động hóa và ứng dụng robot. Bản thân các doanh nghiệp cũng không có hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn thường sử dụng trong lĩnh vực ô tô (IATF 16949, ISO/TS..).

Với quy mô khiêm tốn, các doanh nghiệp cũng không có điều kiện phát triển các phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩm chuyên biệt. Thông thường, hoạt động sản xuất được gia công theo đơn hàng đặt sẵn hoặc thiết kế giản đơn với công nghệ ở phân khúc thấp. Với những hạn chế này, hầu hết các doanh nghiệp trên khó đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp lớn trong nước và cả doanh nghiệp FDI.

Với định hướng phát triển xe điện nhằm tạo môi trường xanh, các doanh nghiệp sản xuất ô tô và xe máy đang đối diện với vấn đề phải chuyển đổi mô hình sản xuất sang sản xuất các sản phẩm chạy điện. Đây vừa là thách thức với các hãng sản xuất ô tô, xe máy, nhưng cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp phụ trợ vì phải đáp ứng với yêu cầu mới. Tuy nhiên, việc chuyển đổi sang xe điện được cho là có nhiều ưu thế cho các doanh nghiệp phụ trợ trong nước khi có nhiều doanh nghiệp có khả năng cung cấp các linh phụ kiên đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất xe điện. Mặc dù vậy, hệ sinh thái muốn phát triển nhanh, bền vững và “đồng thịnh vượng” vẫn đòi hỏi sự quan tâm của các cấp chính quyền để tạo những động lực cho các bên tham gia vào hệ sinh thái này. Với định hướng này, các doanh nghiệp trong nước cần tập trung tái cấu trúc sản xuất hướng đến có năng lực sản xuất motor điện, bộ điều khiển, hệ thống sạc, hệ thống điện,… đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật do các doanh nghiệp FDI áp dụng.

Hiện nay, các doanh nghiệp FDI sản xuất ô tô, xe máy đang có xu hướng phát triển dòng xe điện và Hybrid. Các doanh nghiệp có định hướng trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp này cần nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan nhằm đáp ứng chiến lược phát triển sản phẩm mới của những doanh nghiệp FDI này.

3. Hiện trạng chuyển đổi số trong các doanh nghiệp CNHT lĩnh vực cơ khí ô tô - xe máy tỉnh Phú Thọ

Các doanh nghiệp CNHT hoạt động trong mảng cơ khí, nhựa đã có những sự thay đổi nhất định. Việc đầu tư vào các trang thiết bị máy móc hiện đại đã được một số doanh nghiệp trên địa bàn có nguồn lực và đơn hàng ổn định đầu tư, mở rộng. Việc ứng dụng CNTT đã được các doanh nghiệp triển khai hầu hết ở bộ phận hành chính, quản trị. Một số doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư hệ thống chăm sóc khách hàng (CRM), phần mềm quản lý bán hàng, quản lý khov.v…. Riêng bộ phận sản xuất, một số doanh nghiệp đã có sự đầu tư nhưng chưa thành hệ thống tích hợp toàn diện. Hoạt động chuyển đổi số còn cục bộ thiếu tính hệ thống. Đây là một trong những điểm yếu của doanh nghiệp CNHT. Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp đã có những hoạt động chuyển đổi số nổi bật như: Công ty CP Cơ khí đúc Việt Nam, Công ty đã hiện đại hóa những dây chuyền sản xuất lõi và tích hợp điều khiển tự động.

Nhìn chung, do thiếu vốn và nguồn lực, hoạt động chuyển đổi số ở nhiều doanh nghiệp CNHT ô tô, xe máy chỉ dừng lại ở những khâu cốt lõi như thiết kế, lập kế hoạch và điều độ sản xuất và phần mềm quản trị chung. Hoạt động chuyển đổi số trong doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa và mang tính bền vững, khi nó phục vụ hoạt động của doanh nghiệp và mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp. Theo đó, việc kết nối doanh nghiệp CNHT với các doanh nghiệp FDI hay các thị trường có đơn hàng ổn định sẽ là động lực thiết thực để doanh nghiệp chuyển đổi số một cách bền vững.

4. Môi trường kết nối giữa doanh nghiệp FDI và nội địa

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp FDI và nội địa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn chưa chặt chẽ. Ngay cả việc sử dụng các đơn vị cung ứng dịch vụ logistics, nhiều doanh nghiệp sử dụng các doanh nghiệp ngoài địa bàn tỉnh Phú Thọ do các doanh nghiệp này có sự vượt trội về chất lượng dịch vụ, sự toàn diện của dịch vụ và mức độ hợp lý của chi phí. Về thực hiện trách nhiệm xã hội, ngoài những hoạt động hỗ trợ địa phương, một số doanh nghiệp FDI đã có triển khai một số hoạt động nâng cao năng lực sản xuất, năng lực điều hành cho doanh nghiệp nội tỉnh và các nhà cung ứng cấp 1, cấp 2.

Trong những năm gần đây, được sự khuyến khích của chính quyền địa phương, Toyota Việt Nam đã có những chương trình đào tạo hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị sản xuất theo triết lý TPM (Bảo trì năng suất toàn diện), công cụ do Toyota phát triển và triển khai trong nhiều năm qua tại nhà máy của Toyota và các doanh nghiệp phụ trợ cho Toyota. Ngoài những thành tựu đạt được, hoạt động đào tạo nâng cao năng lực cho doanh nghiệp còn hạn chế, chưa lan tỏa được rộng rãi.

Trên thực tế, việc tiếp nhận tư duy này còn gặp một số khó khăn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khó khăn lớn nhất chính là văn hóa sản xuất công nghiệp, môi trường đòi hỏi nhân viên có kỷ luật cao, tư duy chủ động phát hiện và ngăn ngừa lỗi hay vấn đề phát sinh và có ý thức tự giác cao. Việc áp dụng TPM tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nguồn lực lao động trình độ hạn chế sẽ không phát huy được mục tiêu của TPM, thậm chí còn có những biểu hiện mang tính cản trở hay hình thức không tạo hiệu quả thực sự. Thêm nữa, việc duy trì hoạt động TPM được đánh giá là không phù hợp với doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế, nhiều chủng loại máy móc và thiếu thông tin hướng dẫn chi tiết về máy móc, đơn hàng đa dạng và không đều đặn.

Một trong những hạn chế lớn nhất của TPM là sự thiếu cập nhật tới hoạt động chuyển đổi số mạnh mẽ gần đây. TPM được phát triển dựa trên môi trường sản xuất truyền thống, nơi đề cao các kỹ năng nền tảng: tính trực quan, tính cơ học. Sự khiếm khuyết của TPM truyền thống cần kết hợp nhịp nhàng với các mô hình và phương pháp bổ trợ khác để tích hợp được các hoạt động chuyển đổi số hướng tới hiệu quả cao.

Có thể nhận thấy, việc các doanh nghiệp CNHT cơ khí nội tỉnh chưa trở thành các nhà cung ứng dịch vụ cho các nhà sản xuất FDI lĩnh vực ô tô, xe máy lớn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tồn tại những nguyên nhân sau:

  • Chất lượng sản phẩm chưa ổn định đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng.
  • Giá thành chưa cạnh tranh.
  • Hệ thống quản trị nhà máy chưa chuyên nghiệp.
  • Cơ sở vật chất và hiện trường sản xuất chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu.
  • Quy cách đóng gói và bảo quản hàng chưa thỏa mãn các tiêu chuẩn của nhà sản xuất và khách hàng.

4. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào mảng công nghiệp hỗ trợ

Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất ô tô xe máy trên cả nước, không chỉ riêng địa bàn Vĩnh Phúc thuộc tỉnh Phú Thọ đang được hưởng những ưu đãi theo 3 cơ chế sau:

  1. Ưu đãi theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế nhập khẩu, tiền thuê đất…
  2. Ưu đãi riêng của địa phương về đất đai, hạ tầng khu công nghiệp, đào tạo và các hỗ trợ khác.
  3. Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Với động lực phát triển CNHT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2015/NĐ-CP để hỗ trợ phát triển một số ngành CNHT ưu tiên (linh kiện ô tô, xe máy, điện tửv.v…). Ngoài ra, để tạo tư duy, thay đổi cách làm và cách quản trị, Nghị định cũng nhấn mạnh vào nội dung đào tạo và chuyển giao công nghệ. Nhằm thúc đẩy cho ngành CNHT phát triển hơn nữa, Nghị định số 205/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 111 đã bổ sung thêm cơ chế cấp bù lãi suất vay cho những doanh nghiệp phát triển sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên. Ngoài ra, Nghị định này hỗ trợ mạnh hơn về tín dụng, đào tạo và nghiên cứu phát triển sản phẩm.

Nhằm hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ đã có những cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp, cụ thể như: Hỗ trợ tài chính, thuế, đất đai cho các dự án nghiên cứu, tiếp nhận, làm chủ và đổi mới công nghệ (Luật Chuyển giao công nghệ, 2017). Có thể nhận thấy, Luật 2017 chưa đề cập trực tiếp đến đối tượng chuyển giao công nghệ, theo đó Dự thảo luật năm 2025 đang đưa ra những chính sách ưu đãi tài chính để khuyến khích doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp FDI chuyển giao cho các đối tác trong nước.

Có thể nhận thấy, tỉnh Vĩnh Phúc cũ đã có những thành công đáng kể trong hoạt động thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất công nghiệp công nghệ cao và CNHT, tuy nhiên, các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực doanh nghiệp CNHT chưa được triển khai mạnh mẽ. Do vậy, trên địa bàn tỉnh chưa hình thành được một hệ sinh thái doanh nghiệp CNHT kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực sản xuất ô tô, xe máy.

Các hoạt động kết nối với các chương trình hợp tác song phương giữa các chính phủ như JICA, GIZ, KOICA, PUMP và chương trình hỗ trợ từ Bộ Công Thương (chương trình đào tạo tư vấn viên) và hỗ trợ doanh nghiệp CNHT chưa được triển khai mạnh mẽ tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ. Đây cũng là những vấn đề mà tỉnh Phú Thọ cần xem xét và có những cách tiếp cận quyết liệt hơn trong việc tranh thủ sử dụng các nguồn lực từ các chương trình, và hoạt động đến từ các tổ chức này nhằm nâng cao năng lực các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn. Với định hướng phát triển xanh và công nghệ cao, tỉnh cần có những chính sách vượt trội nhằm thu hút và tạo môi trường thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp CNHT phát triển bền vững và tham gia vào được những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.

Sự quan tâm của các doanh nghiệp FDI luôn dồn trọng tâm chú ý vào những chính sách ưu đãi về thuế, đất và điều kiện sản xuất - kinh doanh dành cho doanh nghiệp FDI nhằm tối thiểu hóa chi phí. Xác định mối quan tâm chính của các doanh nghiệp FDI, chính quyền địa phương cần cân nhắc phát triển chính sách tạo sức hút cho doanh nghiệp FDI, nhưng đổi lại đó là sự cam kết của doanh nghiệp FDI trong việc nâng cao năng lực doanh nghiệp địa phương và hình thành hệ sinh thái CNHT.

5. Kết luận và giải pháp cho Phú Thọ chuyển đổi số bền vững trong phát triển CNHT ngành ô tô, xe máy

Với định hướng phát triển ngành CNHT theo Nghị định số 205 NĐ/CP và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, tỉnh Phú Thọ đã có nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc cam kết cắt giảm thủ tục và giảm thời gian giải quyết các thủ tục hành chính, cũng như việc ban hành một loạt các cơ chế hỗ trợ. Tuy nhiên, hoạt động chuyển đổi số trong doanh nghiệp CNHT ngành cơ khí ô tô, xe máy cần được xem xét kỹ tính phù hợp với năng lực và bối cảnh. Việc đầu tư dư thừa cũng là một lãng phí, nhất là khi năng lực của doanh nghiệp chưa đủ để hấp thụ, cũng như điều hành doanh nghiệp một cách hệ thống và bài bản. Việc trước hết, tỉnh Phú Thọ cần cân nhắc những hoạt động sau:

  • Về việc củng cố mối quan hệ với các đối tác nước ngoài, đặc biệt các đối tác mà tỉnh Vĩnh Phúc cũ đã ký kết với các đối tác kết nghĩa: tỉnh Chungcheongbuk (Hàn Quốc); tỉnh Akita và Tochigi (Nhật Bản); và tỉnh Pernik (Bulgairia).
  • Tạo cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội tỉnh có quy mô và năng lực sản xuất tốt để hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn tỉnh.
  • Nghiên cứu hỗ trợ các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn tỉnh đầu tư vào các máy móc thiết bị hệ thống một cách đồng bộ, hiện đại và có khả năng kết nối số phù hợp với năng lực của doanh nghiệp.
  • Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ lưu trữ năng lượng.
  • Nghiên cứu và đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp CNHT ngành cơ khí ô tô, xe máy trên địa bàn tỉnh từ đó đưa ra các kế hoạch đổi mới sáng tạo.
  • Đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số và ứng dụng AI trong quản trị sản xuất và điều hành doanh nghiệp đối với những doanh nghiệp có đủ năng lực quản lý điều hành. Xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp CNHT ứng dụng CNTT trong sản xuất và điều hành doanh nghiệp phù hợp với định hướng và năng lực hoạt động.
  • Xây dựng chính sách liên kết với các địa phương có năng lực sản xuất CNHT tốt như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh.
  • Xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuê chuyên gia người nước ngoài là những người đã từng giữ vai trò quản lý điều hành doanh nghiệp sản xuất trong cùng lĩnh vực.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ban hành ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ban hành ngày 22/12/2024 về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc.

Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ.

Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình.

Thy Thảo (2024). Nâng cao năng lực cạnh tranh cho công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô. Tạp chí Công Thương, truy cập tại: https://tapchicongthuong.vn/magazine/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cho-cong-nghiep-ho-tro-nganh-o-to-124770.htm.

 

Digital transformation solutions for the supporting industries of the automotive and motorcycle sectors in Vinh Phuc and Phu Tho provinces

 Vu Tuan Anh

National Economics University

Abstract:

The supporting industry for the automobile and motorbike sector in Phu Tho province has undergone significant transformation in recent years. Notably, the post-merger presence and technological inheritance from global FDI enterprises in automotive and motorbike manufacturing have created favorable conditions for the advancement of mechanical and supporting industries. While the adoption of digital technologies is emerging as an inevitable trend, many local enterprises still require appropriate investment support aligned with their production capacity to ensure sustainable development. Based on an assessment of current conditions, this study proposes several solutions aimed at strengthening the foundational capacity of enterprises, including digital transformation initiatives, enhanced linkages with FDI firms, and strategies to expand access to export markets. These recommendations contribute to fostering a more competitive and resilient supporting industry in Phu Tho province.

Keywords: digital transformation, supporting industries, mergers, Phu Tho province, Vinh Phuc province.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 32 năm 2025]