Tham dự Hội nghị có bà Đỗ Thị Minh Trâm - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương); ông Nguyễn Nguyên Phương - Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh; cùng đại diện các đơn vị thuộc Bộ Công Thương, Sở Công Thương, lãnh đạo địa phương và các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) tiêu biểu trên cả nước.
Hội nghị tập trung đánh giá kết quả thực hiện công tác khuyến công năm 2025 và 9 tháng năm 2026, xác định nhiệm vụ, giải pháp hoàn thành kế hoạch năm 2026, hướng tới đổi mới phương thức hỗ trợ và nâng cao hiệu quả phát triển CNNT.
Kinh phí thực hiện tăng mạnh, cần đẩy nhanh tiến độ cuối năm
Theo báo cáo của Cục Công nghiệp tại Hội nghị, năm 2025, các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam thực hiện hoạt động khuyến công với tổng kinh phí 38,455 tỷ đồng, đạt 50,86% kế hoạch năm. Trong đó, kinh phí khuyến công quốc gia (KCQG) đạt 9,560 tỷ đồng, tương đương 89% kế hoạch; kinh phí khuyến công địa phương (KCĐP) đạt 28,895 tỷ đồng, bằng 44,5% kế hoạch.
Một số địa phương bố trí ngân sách địa phương cho hoạt động khuyến công ở mức từ 5 tỷ đồng đến trên 10 tỷ đồng, gồm An Giang, Tây Ninh và Vĩnh Long. Đây là nguồn lực quan trọng hỗ trợ các cơ sở CNNT đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới thiết bị và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năm 2026, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công được duyệt của khu vực là 71,056 tỷ đồng, trong đó kinh phí KCQG là 16,158 tỷ đồng, chiếm 23%; kinh phí KCĐP là 54,898 tỷ đồng, chiếm 77%.
Trong 9 tháng năm 2026, kinh phí thực hiện đạt 34,111 tỷ đồng, bằng 48,05% kế hoạch năm và bằng 461% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể, kinh phí KCQG đạt 10,051 tỷ đồng, bằng 62,4% kế hoạch; kinh phí KCĐP đạt 24,059 tỷ đồng, bằng 43,82% kế hoạch.
Kết quả trên cho thấy hoạt động khuyến công đã có chuyển biến tích cực so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, đến hết tháng 9/2026, các địa phương vẫn cần thực hiện 36,915 tỷ đồng trong ba tháng cuối năm, gồm 6,076 tỷ đồng kinh phí KCQG và 30,839 tỷ đồng kinh phí KCĐP.
Để hoàn thành kế hoạch, yêu cầu đặt ra là các địa phương phải rà soát tiến độ từng đề án, kịp thời tháo gỡ vướng mắc về hồ sơ, vốn đối ứng, mua sắm, nghiệm thu và thanh quyết toán; đồng thời xác định rõ trách nhiệm, thời hạn hoàn thành, bảo đảm sử dụng kinh phí đúng mục đích và hiệu quả.
Đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất
Hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ và áp dụng sản xuất sạch hơn tiếp tục là nội dung trọng tâm của chương trình khuyến công khu vực phía Nam.
Năm 2025, các địa phương đã hỗ trợ 121 cơ sở CNNT xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và cải thiện điều kiện môi trường. Trong đó, nguồn khuyến công quốc gia hỗ trợ 17 cơ sở, nguồn khuyến công địa phương hỗ trợ 104 cơ sở. Tổng kinh phí thực hiện đạt 22,052 tỷ đồng, bằng 44% kế hoạch.
Trong 9 tháng năm 2026, chương trình đã hỗ trợ xây dựng 2 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ mới và mô hình thí điểm áp dụng sản xuất sạch hơn; đồng thời hỗ trợ 63 cơ sở CNNT chuyển giao công nghệ, ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất và xử lý ô nhiễm môi trường. Tổng kinh phí thực hiện nội dung này đạt 23,812 tỷ đồng.
Đáng chú ý, kinh phí thực hiện hỗ trợ đổi mới công nghệ trong 9 tháng năm 2026 đã vượt mức thực hiện của cả năm 2025. Kết quả này cho thấy nguồn lực khuyến công đang được tập trung vào những nhu cầu thiết thực của cơ sở sản xuất, góp phần cải tiến quy trình, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.
Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ
Cùng với hỗ trợ đầu tư sản xuất, hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá và phát triển sản phẩm CNNT tiếp tục được các địa phương quan tâm triển khai.
Năm 2025, chương trình tổ chức một hội chợ triển lãm hàng CNNT tiêu biểu, hàng thủ công mỹ nghệ cấp tỉnh, thu hút 200 cơ sở tham gia với 300 gian hàng tiêu chuẩn. Đồng thời, hỗ trợ 353 gian hàng tiêu chuẩn cho 351 lượt cơ sở tham gia hội chợ, triển lãm trong nước; hỗ trợ bình chọn 67 sản phẩm CNNT tiêu biểu các cấp cho 59 lượt cơ sở; hỗ trợ 3 cơ sở xây dựng, đăng ký thương hiệu và 14 cơ sở đầu tư phòng trưng bày giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
Tổng kinh phí thực hiện các hoạt động phát triển sản phẩm CNNT năm 2025 đạt 7,532 tỷ đồng, bằng 58,5% kế hoạch.
Trong 9 tháng năm 2026, các địa phương đã tổ chức một hội chợ triển lãm hàng CNNT tiêu biểu, hàng thủ công mỹ nghệ với khoảng 200 gian hàng; hỗ trợ 246 gian hàng tiêu chuẩn cho 286 lượt cơ sở tham gia hội chợ, triển lãm trong nước. Chương trình cũng hỗ trợ bình chọn 51 sản phẩm CNNT tiêu biểu các cấp cho 30 lượt cơ sở và đầu tư một phòng trưng bày giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
Thông qua các hoạt động này, cơ sở sản xuất có thêm cơ hội giới thiệu sản phẩm, kết nối với đối tác và tiếp cận thị trường. Đây cũng là giải pháp giúp nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển thương hiệu và đa dạng hóa kênh phân phối, qua đó tăng khả năng cạnh tranh của hàng CNNT.
Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị
Công tác đào tạo nghề, bồi dưỡng kỹ năng quản lý và nâng cao năng lực tổ chức sản xuất tiếp tục được triển khai nhằm hỗ trợ cơ sở CNNT phát triển ổn định, thích ứng với yêu cầu thị trường.
Năm 2025, chương trình tổ chức đào tạo nghề, đào tạo thợ giỏi, nghệ nhân cho 50 lao động; triển khai 12 chương trình đào tạo về khởi sự doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, nhận thức và năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn cho 373 đối tượng là cán bộ quản lý, điều hành tại các cơ sở CNNT.
Trong 9 tháng năm 2026, các địa phương đã bồi dưỡng chuyên sâu về sản xuất sạch hơn cho một giảng viên, báo cáo viên; đồng thời đào tạo 465 học viên về khởi sự doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp và nâng cao nhận thức, năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn, vượt mục tiêu 405 học viên theo kế hoạch năm.
Công tác thông tin, tuyên truyền về khuyến công cũng được duy trì. Năm 2025, các địa phương phát hành 5 đợt bản tin, ấn phẩm; xây dựng 15 chương trình truyền hình, truyền thanh và hỗ trợ 2 cơ sở thiết kế mẫu mã, bao bì đóng gói. Trong 9 tháng năm 2026, đã xuất bản 4 số bản tin, ấn phẩm và sản xuất, phát sóng 3 chương trình truyền hình, truyền thanh.
Bên cạnh đó, năm 2025, có 467 lượt cán bộ khuyến công được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; 14 cộng tác viên được đào tạo, tập huấn. Các địa phương cũng tổ chức 3 hội thảo chuyên đề, hội nghị đánh giá, tổng kết với 312 đại biểu tham dự. Trong 9 tháng năm 2026, có 234 lượt cán bộ được đào tạo, tập huấn; 12 cán bộ tham quan, học tập kinh nghiệm trong nước và 2 hội thảo chuyên đề, hội nghị đánh giá, tổng kết được tổ chức.
Tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả khuyến công
Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động khuyến công khu vực phía Nam vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Tiến độ phân bổ, thực hiện kinh phí tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng khảo sát, xây dựng đề án và đăng ký kế hoạch còn bất cập. Các mô hình liên kết nhiều cơ sở, liên kết ngành, liên kết vùng và phát triển chuỗi giá trị chưa tương xứng với tiềm năng.
Quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra yêu cầu kiện toàn bộ máy, điều chỉnh cơ chế phối hợp, bảo đảm hoạt động khuyến công được triển khai liên tục. Theo báo cáo, khu vực hiện có 8/8 địa phương thành lập đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ khuyến công, với tổng số 260 cán bộ, viên chức và lao động. Trong đó, 75 người trực tiếp được giao nhiệm vụ triển khai hoạt động khuyến công đến cơ sở, chiếm khoảng 29% tổng nhân lực.
Trong thời gian còn lại của năm 2026, các địa phương cần tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án đã được giao; chủ động rà soát, xử lý vướng mắc, nâng cao chất lượng thẩm định và tăng cường kiểm tra, giám sát. Đồng thời, cần củng cố đội ngũ cán bộ, tăng cường phối hợp giữa Sở Công Thương, đơn vị thực hiện nhiệm vụ khuyến công và cơ quan chuyên môn cấp xã, bảo đảm chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu.
Về lâu dài, hoạt động khuyến công cần chuyển mạnh từ hỗ trợ riêng lẻ sang ưu tiên các đề án có khả năng lan tỏa, kết nối nhiều cơ sở sản xuất, hình thành chuỗi giá trị và nâng cao sức cạnh tranh. Việc gắn khuyến công với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và phát triển kinh tế tuần hoàn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, thúc đẩy công nghiệp nông thôn phát triển bền vững.
Những kết quả đạt được trong năm 2025 và 9 tháng năm 2026 là cơ sở để các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam tiếp tục đổi mới phương thức triển khai chính sách khuyến công. Trọng tâm trước mắt là hoàn thành kế hoạch năm 2026, nâng cao chất lượng đề án và hiệu quả hỗ trợ thực chất, qua đó đồng hành cùng các cơ sở CNNT trong đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.
