Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2704/QĐ-BCT ngày 16/10/2026 về việc công bố thủ tục hành chính nội bộ mới trong lĩnh vực khuyến công thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ. Ba thủ tục được công bố tập trung vào các khâu trọng yếu của Chương trình khuyến công quốc gia, gồm đánh giá, thẩm định và phê duyệt kế hoạch; điều chỉnh, bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án, nhiệm vụ; tạm ứng, thanh toán và quyết toán kinh phí thực hiện.
Các thủ tục được xây dựng trên cơ sở Thông tư số 66/2026/TT-BCT ngày 6/10/2026 của Bộ trưởng Bộ Công Thương, quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 23/11/2026.
Quy định rõ quy trình xây dựng, phê duyệt kế hoạch khuyến công quốc gia
Theo phụ lục ban hành kèm Quyết định, thủ tục đánh giá, thẩm định và phê duyệt kế hoạch khuyến công quốc gia được triển khai theo 5 bước, từ đề xuất danh mục, đánh giá cấp cơ sở đến đánh giá cấp Bộ, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch.
Cụ thể, trước ngày 1/6 hằng năm, Sở Công Thương, Trung tâm Khuyến công quốc gia và các tổ chức dịch vụ khuyến công khác đề xuất, tổng hợp danh mục đề án, nhiệm vụ dự kiến đưa vào kế hoạch khuyến công quốc gia năm sau trên Hệ thống thông tin quản lý khuyến công.
Tiếp đó, Sở Công Thương tổ chức đánh giá cấp cơ sở đối với các đề án thuộc phạm vi tổng hợp, lập Phiếu đánh giá theo Mẫu số 4, Phụ lục I ban hành kèm Thông tư số 66/2026/TT-BCT và báo cáo UBND cấp tỉnh.
Trước ngày 15/10 hằng năm, các đơn vị liên quan tiếp tục rà soát, cập nhật thông tin, tài liệu đề xuất kế hoạch trên hệ thống. Cục Công nghiệp tổ chức đánh giá cấp Bộ, thành lập Hội đồng thẩm định kế hoạch khuyến công quốc gia. Căn cứ kết quả thẩm định, Cục Công nghiệp hoàn thiện kế hoạch, trình Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét, phê duyệt.
Sau khi kế hoạch được phê duyệt, Cục Công nghiệp giao hoặc thông báo nhiệm vụ khuyến công quốc gia cho Trung tâm Khuyến công quốc gia và các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện. Việc giao nhiệm vụ căn cứ kế hoạch đã được phê duyệt và dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao.
Về thành phần hồ sơ, phụ lục yêu cầu báo cáo đề xuất kế hoạch phải nêu kết quả thực hiện công tác khuyến công năm trước, tình hình thực hiện kế hoạch năm hiện tại và mục tiêu, định hướng năm sau. Hồ sơ còn có danh mục tổng hợp các đề án theo quy định và phiếu đánh giá cấp cơ sở đối với những đề án thuộc phạm vi Sở Công Thương tổng hợp, đề xuất.
Thời điểm đánh giá cấp Bộ và tổng hợp trình Hội đồng thẩm định được xác định sau mốc tiếp nhận ngày 15/10 hằng năm; việc phê duyệt kế hoạch thực hiện theo tiến độ phân bổ dự toán ngân sách nhà nước hằng năm. Kết quả của thủ tục là quyết định phê duyệt kế hoạch khuyến công quốc gia hằng năm của Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Việc xác định trình tự, mốc thời gian và thành phần hồ sơ tạo cơ sở để các cơ quan, đơn vị chủ động chuẩn bị đề xuất, tổ chức đánh giá và phối hợp trong quá trình xây dựng kế hoạch.
Phân định thẩm quyền điều chỉnh đề án, siết chặt quản lý kinh phí
Đối với thủ tục điều chỉnh, bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án, nhiệm vụ khuyến công quốc gia, dự thảo quy định rõ trách nhiệm cập nhật thông tin, tài liệu và thẩm quyền xử lý khi phát sinh yêu cầu thay đổi.
Theo đó, Sở Công Thương đối với đề án thuộc phạm vi tổng hợp, đề xuất của mình hoặc đơn vị thực hiện đối với các đề án, nhiệm vụ khác phải cập nhật thông tin trên Hệ thống thông tin quản lý khuyến công, nêu rõ nội dung và lý do đề nghị.
Thẩm quyền giải quyết được phân định theo tính chất điều chỉnh. Sở Công Thương quyết định điều chỉnh địa điểm trong phạm vi tỉnh, đơn vị phối hợp, đối tượng thụ hưởng, tiến độ, thông số kỹ thuật máy móc tương đương và cơ cấu chi tiết dự toán, với điều kiện không làm tăng tổng kinh phí hỗ trợ và không thay đổi mục tiêu đề án.
Cục Công nghiệp quyết định điều chỉnh kinh phí giữa các đề án của cùng một đơn vị, giảm tổng kinh phí hỗ trợ và các nội dung điều chỉnh khác thuộc thẩm quyền theo Thông tư số 66/2026/TT-BCT.
Trong khi đó, Bộ Công Thương quyết định đối với các trường hợp tăng tổng kinh phí hỗ trợ, thay đổi nội dung hoạt động, bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án, cũng như điều chỉnh kinh phí giữa các đơn vị thực hiện.
Khi đề nghị điều chỉnh, bổ sung hoặc ngừng thực hiện, hồ sơ phải có văn bản đề nghị kèm tài liệu chứng minh lý do. Thời hạn xử lý được xác định theo tiến độ quản lý thực tế của đề án trong năm ngân sách.
Cùng với việc phân định thẩm quyền, thủ tục tạm ứng, thanh toán và quyết toán kinh phí cũng được quy định cụ thể. Sau khi hợp đồng có hiệu lực, đơn vị thực hiện lập văn bản đề nghị tạm ứng theo Mẫu số 3, Phụ lục I gửi Cục Công nghiệp. Mức tạm ứng tối đa là 50% kinh phí hỗ trợ theo hợp đồng.
Sau khi hoàn thành đề án và tổ chức nghiệm thu, đơn vị thực hiện lập hồ sơ đề nghị thanh toán, kèm bảng kê chứng từ theo Mẫu số 8 và tài liệu theo Phụ lục II, gửi Cục Công nghiệp. Cơ quan này kiểm tra, xác định giá trị hoàn thành và thực hiện thủ tục thanh toán qua Kho bạc Nhà nước.
Đối với quyết toán, đơn vị thực hiện lập báo cáo quyết toán, bảng chi tiết quyết toán theo Mẫu số 6 và bảng đối chiếu kinh phí theo Mẫu số 7, Phụ lục I gửi Cục Công nghiệp kiểm tra, xác định kinh phí được quyết toán và tổng hợp vào quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm.
Hồ sơ thanh toán, quyết toán còn phải có biên bản nghiệm thu, bảng kê chứng từ, đầy đủ hóa đơn, chứng từ chi tiêu thực tế và sản phẩm đầu ra theo Phụ lục II. Kết quả thực hiện bao gồm việc xác định kinh phí được quyết toán và biên bản thanh lý hợp đồng theo quy định.
Các yêu cầu này tạo cơ sở đối chiếu giữa nội dung đề án, kết quả nghiệm thu và kinh phí đề nghị thanh toán, quyết toán, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của đơn vị thực hiện và cơ quan xử lý hồ sơ.
Đẩy mạnh xử lý điện tử, bảo đảm tiến độ triển khai
Cùng với việc chuẩn hóa trình tự và thẩm quyền, các thủ tục được thực hiện theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Việc đề xuất, cập nhật dữ liệu và tài liệu được triển khai trên Hệ thống thông tin quản lý khuyến công; đối với hồ sơ tạm ứng, thanh toán và quyết toán, đơn vị thực hiện đồng thời gửi chứng từ, hồ sơ về Cục Công nghiệp.
Trong thời gian hệ thống chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật theo Thông tư số 66/2026/TT-BCT, việc đề xuất, tiếp nhận, xử lý, trao đổi và lưu trữ thông tin, tài liệu điện tử có thể thực hiện qua hệ thống thông tin, hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp, thư điện tử công vụ hoặc phương thức điện tử khác do Cục Công nghiệp hướng dẫn.
Các phương thức này phải phù hợp với tính chất, nội dung công việc và quy định pháp luật, đồng thời “bảo đảm không làm gián đoạn việc xây dựng, đánh giá, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch khuyến công quốc gia”.
Với ba thủ tục hành chính nội bộ được công bố, các khâu quan trọng trong quản lý khuyến công quốc gia được xác định cụ thể hơn về trình tự, trách nhiệm phối hợp, thẩm quyền quyết định và yêu cầu hồ sơ. Đây là cơ sở để các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện thống nhất, từ đề xuất kế hoạch đến triển khai đề án và quản lý kinh phí hỗ trợ.
Theo Điều 2 của Quyết định, văn bản có hiệu lực thi hành từ ngày 23/11/2026.
