[eMagazine] Bệ đỡ chính sách hỗ trợ đặc sản vùng cao bắt nhịp thị trường
28/09/2026 lúc 10:30 (GMT)

[eMagazine] Bệ đỡ chính sách hỗ trợ đặc sản vùng cao bắt nhịp thị trường

 

Để đặc sản vùng cao có chỗ đứng bền vững trên thị trường, đưa hàng tới điểm bán mới chỉ là bước đầu. Từ chính sách của Bộ Công Thương đến cách triển khai tại địa phương, hỗ trợ đang hướng nhiều hơn vào việc giúp người sản xuất nắm bắt yêu cầu của nhà phân phối, tổ chức nguồn hàng phù hợp và từng bước tạo đầu ra ổn định.

tít xen 1

Để một đặc sản vùng cao có mặt trong siêu thị hay chuỗi bán lẻ, chất lượng tốt mới là điều kiện ban đầu. Nhà phân phối còn quan tâm đến sản lượng, quy cách đóng gói, hồ sơ chất lượng, truy xuất nguồn gốc, giá và khả năng giao hàng. Với nông sản, yêu cầu còn gắn với mùa vụ, sơ chế, bảo quản và vận chuyển.

Trong khi đó, quy mô sản xuất nhỏ, nguồn hàng phân tán, xa các trung tâm tiêu dùng vẫn là trở ngại đối với nhiều sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Một sản phẩm có lợi thế về chất lượng và bản sắc nhưng sản lượng không ổn định, quy cách chưa phù hợp hoặc chi phí vận chuyển cao vẫn khó trở thành nguồn cung thường xuyên cho hệ thống bán lẻ. Hỗ trợ thị trường vì thế cần giúp người sản xuất tiếp cận sớm hơn nhu cầu của người mua để chuẩn bị nguồn hàng phù hợp.

ảnh ghép 1

 

Hướng tiếp cận này được thể hiện trong Hướng dẫn số 3024/HD-BCT ngày 29/4/2026 của Bộ Công Thương về thực hiện một số nội dung thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030. Cùng với xúc tiến, kết nối tiêu thụ, Hướng dẫn đề cập phát triển hạ tầng thương mại, logistics gắn với vùng sản xuất, điểm giới thiệu và bán sản phẩm, kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã với hệ thống phân phối. Đối với mô hình sinh kế cộng đồng, chính sách hỗ trợ liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức với người dân tộc thiểu số thông qua hợp đồng hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất và thu mua sản phẩm.

Định hướng này tiếp tục được đặt ra trong Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, ban hành tại Quyết định số 1626/QĐ-BCT ngày 2/7/2026. Trong các nhiệm vụ của Kế hoạch có nghiên cứu định hướng phát triển thị trường bán lẻ khu vực nông thôn, miền núi giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.

Ở địa phương, yêu cầu đưa sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của hệ thống phân phối đã được đặt khá cụ thể. Tại Hội nghị kết nối cung - cầu, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm Hà Tĩnh ngày 31/3/2026, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hà Tĩnh Trần Báu Hà yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã hoàn thiện những điều kiện cần thiết để đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị; đồng thời, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh phải chủ động chuẩn hóa sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn của hệ thống phân phối.

ảnh ghép 2

Cách đặt vấn đề này cho thấy vai trò của địa phương không dừng ở tổ chức một cuộc kết nối. Để cơ hội tiếp cận nhà phân phối có thể đi tới giao dịch, các chủ thể sản xuất cần biết mình còn thiếu điều kiện gì và phải thay đổi ra sao.

Điện Biên cũng đang triển khai theo hướng đó. Tại Hội nghị kết nối sản phẩm OCOP tỉnh Điện Biên với hệ thống phân phối ngày 26/8/2026, các chủ thể được trao đổi trực tiếp về quy trình cung ứng, nhu cầu thị trường và những điều kiện để hàng hóa tham gia hệ thống bán lẻ hiện đại.

Theo ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên, tỉnh hiện có 157 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Năm 2026, Điện Biên phấn đấu phát triển thêm 70 sản phẩm, đồng thời đưa 20-30% chủ thể OCOP tham gia các kênh phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi và sàn thương mại điện tử.

Mục tiêu vì thế không chỉ là có thêm sản phẩm được công nhận, mà còn nâng khả năng tham gia thị trường của các chủ thể sản xuất, để đặc sản vùng cao bắt nhịp thị trường ngay từ khi yêu cầu của người mua được chuyển thành yêu cầu đối với nguồn cung.

tít xen 2

Thực tế cho thấy, khi yêu cầu của thị trường đến sớm hơn với vùng sản xuất, mối liên kết với hệ thống phân phối có thể tác động trực tiếp đến cách tổ chức nguồn hàng.

Tại Vân Hồ, Sơn La, mô hình của HTX Vàng A Sa là một ví dụ. Trước khi tham gia Chương trình Sinh kế cộng đồng, sản xuất của các hộ chủ yếu nhỏ lẻ, ít chủng loại, đầu ra phụ thuộc thương lái và chưa hình thành liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp. Từ năm 2018, các hộ tham gia được tập huấn về sản phẩm, tư vấn kiến thức thị trường, định hướng sản xuất, đa dạng hóa cây trồng và phát triển cây trái vụ phù hợp với điều kiện địa phương.

ảnh ghép 3

Sự thay đổi thể hiện rõ ở đầu ra. Khoảng 70% nông sản của HTX Vàng A Sa, tương đương khoảng 250 tấn, được tiêu thụ qua hệ thống GO!/Big C, đạt doanh thu trung bình khoảng 300 triệu đồng/tháng. Với 39 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia, thu nhập tăng khoảng 200%, giá trị sản xuất tăng từ 25-30 triệu đồng/ha lên 50-60 triệu đồng/ha.

Kết quả này đáng chú ý không chỉ ở lượng hàng tiêu thụ. Từ chỗ sản xuất nhỏ lẻ, các hộ đã chuyển dần sang sản xuất theo nhu cầu thị trường, canh tác tập trung hơn, chú ý bao bì, nhãn hiệu, đóng gói và kỹ thuật sản xuất an toàn. Đầu ra ổn định hơn tạo cơ sở để người dân tính toán lại quy mô và cách thức sản xuất.

mận hậu

Ở quy mô lớn hơn, Sơn La cũng chủ động đưa hệ thống phân phối tham gia vào quá trình tiêu thụ nông sản. Vụ mận hậu năm 2024, Saigon Co.op đã kết nối thu mua 100 tấn mận hậu Sơn La, đưa vào 130 siêu thị Co.opmart và Co.opXtra trên toàn quốc.

Tại lễ khởi hành đưa mận hậu Sơn La vào hệ thống phân phối, ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, đề nghị hệ thống bán lẻ tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã của tỉnh ký kết hợp đồng cung ứng nông sản; đồng thời, tỉnh cam kết hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản.

ông công

Một đơn hàng lớn không thể giải quyết toàn bộ bài toán đầu ra, nhưng cho thấy ý nghĩa của việc gắn xúc tiến với sức mua thực tế. Để lượng hàng lớn có thể đi qua hệ thống bán lẻ, vùng sản xuất phải đáp ứng tương đối đồng bộ các yêu cầu về chất lượng, sản lượng, quy cách và thời điểm cung ứng. Đây cũng là cơ sở để hoạt động hỗ trợ thị trường đi sâu hơn vào năng lực cung ứng của doanh nghiệp, hợp tác xã.

tít xen 3

Đưa sản phẩm vào một hệ thống phân phối là kết quả dễ nhìn thấy. Khó hơn là duy trì được quan hệ cung ứng sau lần kết nối đầu tiên. Điều đó phụ thuộc vào khả năng đáp ứng ổn định của người bán, đồng thời đòi hỏi sự hỗ trợ của địa phương không bị ngắt quãng sau các hội nghị, hội chợ hay lễ ký kết.

Tại Huế, cách làm này đang được triển khai theo hướng gắn kết nối với quá trình hoàn thiện sản phẩm và phát triển thị trường. Ngày 10/10/2025 tại TP.Hồ Chí Minh, Liên minh HTX TP Huế, Hội Doanh nhân trẻ Huế và Saigon Co.op ký kết hợp tác kết nối chuỗi cung ứng, tiêu thụ sản phẩm đặc trưng Huế trong hệ thống siêu thị và các kênh phân phối hiện đại trên toàn quốc.

ảnh ghép 4

Tại sự kiện, 80 mặt hàng, sản phẩm đặc trưng của 15 HTX và doanh nghiệp chính thức được đưa vào hệ thống phân phối. Liên minh HTX TP Huế tham gia tập hợp, tuyển chọn sản phẩm đạt chuẩn, hỗ trợ pháp lý và chứng nhận chất lượng; các bên đồng thời phối hợp tập huấn về quản trị, marketing và tiêu chuẩn hàng hóa.

ảnh ghép 5

Hoạt động kết nối tiếp tục được nối với chính sách phát triển thị trường của địa phương. Ngày 28/8/2026, UBND TP Huế ban hành Kế hoạch số 504/KH-UBND về quảng bá, xúc tiến và phát triển thị trường sản phẩm OCOP năm 2026-2027, trong đó chú trọng kết nối cung cầu, phát triển thị trường, đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối hiện đại và thương mại điện tử, đồng thời nâng cao năng lực cho các chủ thể.

ông hùng

Từ những trường hợp trên có thể thấy một chuyển động đáng chú ý trong cách hỗ trợ thị trường. Bộ Công Thương tạo khung chính sách và các công cụ hỗ trợ; địa phương lựa chọn sản phẩm, kết nối chủ thể sản xuất với nhà phân phối và hỗ trợ hoàn thiện điều kiện cung ứng; doanh nghiệp phân phối đưa yêu cầu của thị trường đến gần hơn với vùng sản xuất. Người sản xuất nhờ đó có thêm căn cứ để điều chỉnh sản lượng, chất lượng, quy cách và kế hoạch giao hàng.

Hiệu quả cũng cần được nhìn bằng những kết quả cụ thể hơn số cuộc kết nối hay số sản phẩm được trưng bày. 100 tấn mận hậu Sơn La cho thấy khả năng chuyển kết nối thành lượng hàng tiêu thụ; 80 mặt hàng của 15 HTX và doanh nghiệp Huế cho thấy khả năng tiếp cận một hệ thống bán lẻ; còn mô hình Vàng A Sa, với 70% sản lượng được tiêu thụ qua hệ thống phân phối và thu nhập của các hộ tham gia tăng khoảng 200%, cho thấy đầu ra có thể tác động trở lại sản xuất và sinh kế.

Đưa được sản phẩm vào hệ thống phân phối mới là điều kiện cần. Để duy trì đầu ra, người sản xuất phải đáp ứng ổn định yêu cầu về chất lượng, sản lượng, giá và giao hàng; nhà phân phối cần chuyển thông tin thị trường về sớm hơn; chính sách hỗ trợ của địa phương phải sát với năng lực và những điểm còn yếu của từng vùng sản xuất.

Hiệu quả của chính sách vì thế cần được thể hiện bằng khả năng duy trì đơn hàng, mở rộng lượng tiêu thụ và nâng thu nhập cho người sản xuất. Khi yêu cầu của thị trường được phản ánh sớm vào quá trình chuẩn bị nguồn hàng, đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ có thêm điều kiện trở thành nguồn cung ổn định, từng bước nâng giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Bài: Gia Hân

Thiết kế: An Nguyễn

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI