[eMagazine] Đặt thị trường vào trung tâm chính sách hỗ trợ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
02/10/2026 lúc 14:02 (GMT)

[eMagazine] Đặt thị trường vào trung tâm chính sách hỗ trợ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

 

 

Ngày càng nhiều sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có cơ hội đến gần hơn với người tiêu dùng. Nhưng từ những kết nối ban đầu đến đầu ra ổn định vẫn là một chặng đường cần được tiếp sức. Bước sang giai đoạn mới, chính sách hỗ trợ đang hướng sát hơn tới thị trường, để những cơ hội đã mở ra có thể chuyển thành kết quả thực chất và bền vững.

tit 1

 

Với nhiều sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, được đưa tới một hội chợ, một phiên kết nối hay có mặt trên quầy hàng mới chỉ là bước đầu. Phía sau cơ hội ấy là câu chuyện khó hơn: sản phẩm có đáp ứng yêu cầu của người mua, nguồn hàng có ổn định và sau lần giao dịch đầu tiên, người mua có tiếp tục quay lại hay không.

Những yêu cầu cụ thể ấy của thị trường đang làm thay đổi cách thức hỗ trợ. Nếu trước đây điều cần thiết là mở thêm cơ hội để sản phẩm được giới thiệu, kết nối và tìm kiếm đầu ra, thì khi cánh cửa thị trường đã rộng hơn, chính sách cần đi thêm một bước: giúp chủ thể nâng khả năng biến cơ hội tiếp cận thành năng lực tham gia thị trường.

Giai đoạn 2021-2025 đã hình thành một nền chính sách tương đối rộng cho quá trình này. Ở lớp chính sách trực tiếp cho vùng, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 gắn phát triển sản xuất, sinh kế với chuỗi giá trị và thị trường.

ảnh 1

Song song với nguồn lực dành riêng cho vùng, các chính sách thương mại mở thêm không gian tiếp cận thị trường. Quyết định số 1162/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 về Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo giai đoạn 2021-2025 hướng tới phát triển thương mại, hỗ trợ sản phẩm, chủ thể kinh doanh và tăng cường kết nối tại những địa bàn khó khăn. Phạm vi Chương trình không đồng nhất với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhưng có sự giao thoa lớn về địa bàn và đối tượng thụ hưởng.

Cùng với đó, Chiến lược phát triển thương mại trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các chương trình về thị trường trong nước, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, phát triển hệ thống phân phối bổ sung những công cụ hỗ trợ tiếp cận thị trường.

Nhìn trong cả hệ thống, kết quả giai đoạn 2021-2025 không chỉ nằm ở số hội chợ hay phiên kết nối. Những kênh tiếp cận thị trường từng bước được mở rộng, tạo thêm cơ hội để người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp gặp nhà mua hàng, tiếp cận hệ thống phân phối và đưa sản phẩm tới người tiêu dùng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các chủ thể ở xa trung tâm tiêu dùng, hạn chế về thông tin và ít cơ hội làm việc trực tiếp với nhà mua hàng.

ảnh 2

Riêng Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại, giai đoạn 2021-2025, Bộ Công Thương đã phê duyệt 630 đề án với tổng kinh phí hơn 650 tỷ đồng, hỗ trợ trực tiếp hơn 41.000 lượt doanh nghiệp và hợp tác xã trên cả nước. Đây không phải số liệu riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhưng cho thấy quy mô của mạng lưới xúc tiến mà các chủ thể trong vùng có thể tham gia.

Tại Hội nghị xúc tiến thương mại và phát triển xuất nhập khẩu vùng Trung du, miền núi phía Bắc ngày 12/4/2024 tại Lào Cai, Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng chỉ ra những hạn chế về quy mô sản xuất nông, lâm, thủy sản còn nhỏ lẻ, công nghiệp chế biến còn khó khăn, liên kết nội vùng và liên vùng hạn chế. Từ đó, Thứ trưởng nhấn mạnh yêu cầu phát triển các sản phẩm thế mạnh theo từng nhóm, xác định mô hình chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị phù hợp.

ảnh 3

Cơ hội tiếp cận thị trường càng mở rộng, yêu cầu đối với sản phẩm càng cao. Hỗ trợ vì thế không thể dừng ở việc đưa sản phẩm đến với người mua mà cần giúp chủ thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.

Bước sang giai đoạn mới, Hướng dẫn số 3024/HD-BCT ngày 29/4/2026 của Bộ Công Thương tiếp tục dành nội dung cho thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, từ nghiên cứu, cơ sở dữ liệu, nâng cao năng lực đến hỗ trợ tiếp cận thị trường.

ảnh 4

Cách tiếp cận từ phía thị trường cũng được thể hiện trong chỉ đạo điều hành của Bộ Công Thương. Tại buổi làm việc với Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước ngày 13/5/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng yêu cầu khẩn trương hoàn thiện Chiến lược phát triển thị trường thương mại trong nước giai đoạn 2026-2030; trong đó phải “nghiên cứu kỹ dư địa thị trường, cơ cấu tiêu dùng, phân khúc thu nhập và động lực tăng trưởng” để xây dựng giải pháp phù hợp.

Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mỗi nhóm sản phẩm, mỗi chủ thể lại đứng trước những điểm nghẽn khác nhau. Hỗ trợ vì thế cần bắt đầu từ nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng của chủ thể, thay vì trước hết xác định sẽ tổ chức hoạt động gì.

 

tít 2

Khoảng cách từ tiếp cận đến duy trì thị trường có thể nhìn khá rõ ở Măng Đen. Hợp tác xã Rau Xứ Lạnh Măng Đen được thành lập năm 2024 với 17 xã viên, trong đó 12 người là đồng bào dân tộc thiểu số. Sau thời gian đầu hoạt động, hợp tác xã sản xuất khoảng 10 tấn nông sản, ký hợp đồng cung ứng rau, củ, quả hữu cơ cho doanh nghiệp tiêu thụ tại địa phương và đạt doanh thu 250 triệu đồng.

Có sản phẩm hàng hóa, hợp đồng và doanh thu là những bước tiến cụ thể. Tuy nhiên, khi quy mô sản xuất tăng lên, đầu ra phải đủ sức hấp thụ; khả năng duy trì người mua còn phụ thuộc vào chất lượng, sản lượng, giá thành và giao hàng. Thực tế sau đó, địa phương vẫn đánh giá thị trường tiêu thụ chưa thật sự ổn định và tiếp tục tìm kiếm thêm đầu ra. Điều đó cho thấy tìm được người mua là kết quả quan trọng, nhưng năng lực đáp ứng mới quyết định quan hệ thị trường có thể kéo dài hay không.

 

ảnh 4

Ở góc độ địa phương, những điểm nghẽn cũng được nhìn nhận ngày càng cụ thể. Ông Bùi Quốc Khánh, Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn cho biết, tỉnh có trên 170 sản phẩm OCOP nhưng khả năng mở rộng thị trường giữa các sản phẩm còn khác nhau. Ngay với na Chi Lăng có vùng sản xuất gần 5.000 ha, đặc tính chín rộ, khó bảo quản và vận chuyển vẫn gây áp lực lên tiêu thụ. Theo lãnh đạo Sở Công Thương Lạng Sơn, cùng với quảng bá, giữ vững chất lượng, uy tín thương hiệu và tổ chức tốt hơn kết nối từ người sản xuất đến người tiêu dùng là những yêu cầu quan trọng.

ông khánh

Ở phía Nam, giá trị của một đầu ra có khả năng duy trì lại hiện lên khá cụ thể. Tại vùng cỏ bàng Phú Mỹ, xã Giang Thành, tỉnh An Giang, hơn 140 hộ đã ký hợp đồng đan sản phẩm từ cỏ bàng, thu nhập bình quân 2,8-3,5 triệu đồng/hộ/tháng. Một hộ trước đây mất khoảng một tuần để đan một tấm đệm bán hơn 100.000 đồng; khi chuyển sang đan giỏ theo hợp đồng, mỗi tháng có thể làm khoảng 100 sản phẩm, thu nhập khoảng 2,5 triệu đồng và có việc làm thường xuyên hơn.

Trường hợp Phú Mỹ cho thấy ý nghĩa của đầu ra ổn định không chỉ nằm ở lượng hàng bán được. Với những hộ dân nơi đây, đó còn là việc làm đều hơn và khoản thu nhập có thể tính được từ chính sản phẩm họ làm ra.

ảnh 5

 

tít 3

 

Những trường hợp từ Măng Đen, Lạng Sơn đến Phú Mỹ cho thấy mỗi sản phẩm có thể gặp một điểm nghẽn khác nhau trên đường ra thị trường. Có nơi cần thêm đầu ra, có nơi vướng bảo quản, vận chuyển, có chủ thể cần duy trì đơn hàng sau những kết nối ban đầu. Hiệu quả hỗ trợ vì thế phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng xác định đúng điểm nghẽn và đưa nguồn lực đến đúng khâu cần tháo gỡ.

Cùng với nguồn lực dành cho Chương trình mục tiêu quốc gia, đầu ra cho sản phẩm của vùng đang được đặt trong một không gian thị trường rộng hơn. Trong quá trình triển khai Nghị quyết số 88/NQ-CP và Chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2025-2027, Bộ Công Thương xác định tăng cường giải pháp tiêu thụ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một trong những định hướng cần tập trung.

ảnh 6

Đặt vào bài toán tiêu thụ sản phẩm của vùng, cách tiếp cận này đưa thị trường về đúng vị trí xuất phát của hỗ trợ: người mua cần gì, sản phẩm đang thiếu gì và cần tháo gỡ khâu nào để hai phía gặp nhau. Một hoạt động xúc tiến hay phiên kết nối khi đó không phải kết quả cuối cùng, mà là một khâu trong quá trình đưa sản phẩm vào thị trường.

Đến tháng 9/2026, cách nhìn này được thể hiện cụ thể hơn trong định hướng mở rộng đầu ra. Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước xác định 5 không gian thị trường cùng 6 nhóm giải pháp cần ưu tiên; đồng thời đặt trọng tâm đánh giá vào những kết quả sau hỗ trợ như khả năng sản phẩm duy trì trên kệ, đơn hàng lặp lại, doanh thu, chi phí, việc làm và thu nhập của cộng đồng.

biểu đồ

 

Thước đo ấy cũng làm thay đổi cách nhìn về hiệu quả nguồn lực. Một hội chợ có thể kết thúc sau vài ngày, một phiên kết nối khép lại sau vài giờ, nhưng kết quả cần được nhìn ở những tháng sau đó: sản phẩm còn được bán hay không, người mua có đặt hàng tiếp, chủ thể có đáp ứng yêu cầu về chất lượng, sản lượng và giao hàng hay không.

Tháng 8/2026, Quốc hội tiếp tục tổ chức lại khung chính sách khi ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất bốn Chương trình mục tiêu quốc gia. Trong khuôn khổ mới, yêu cầu sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm càng đặt ra bài toán phối hợp giữa hỗ trợ dành cho vùng với các công cụ phát triển thị trường.

Với người sản xuất, hiệu quả cuối cùng vẫn được nhận biết bằng những điều cụ thể: hàng làm ra có bán được, người mua có quay lại và sản xuất có thể tiếp tục với quy mô tốt hơn hay không. Sau một giai đoạn mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, phần việc khó hơn là giúp những cơ hội ban đầu trở thành quan hệ mua bán có thể duy trì. Khi đó, kết quả hỗ trợ không chỉ nằm trong báo cáo của một chương trình mà hiện diện trong nhịp sản xuất và thu nhập của người dân.

 

Bài: Hà Đan

Thiết kế: Quốc Duy

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI