[eMagazine] Mở rộng dòng chảy thị trường cho đặc sản vùng dân tộc thiểu số và miền núi
25/09/2026 lúc 16:51 (GMT)

[eMagazine] Mở rộng dòng chảy thị trường cho đặc sản vùng dân tộc thiểu số và miền núi

 

Sức cầu trong nước cùng sự mở rộng của các kênh phân phối đang tạo thêm dư địa cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường đang góp phần mở rộng cơ hội tiêu thụ, từng bước tạo đầu ra ổn định và bền vững cho sản phẩm.

 

tít xen 1

Thị trường trong nước đang mở ra không gian tiêu thụ ngày càng rộng cho hàng hóa Việt Nam. Sức mua duy trì đà tăng cùng sự phát triển của các kênh phân phối đang tạo thêm cơ hội để sản phẩm từ nhiều vùng sản xuất tiếp cận những nhóm khách hàng mới. Theo số liệu của Bộ Công Thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.888 nghìn tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng vẫn đạt 7,2%. Năm 2025, chỉ tiêu này đạt khoảng 7.092,13 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2024.

Không gian mua bán cũng thay đổi nhanh. Năm 2025, quy mô thương mại điện tử Việt Nam đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, chiếm khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Mua sắm trực tuyến, mạng xã hội và bán hàng đa kênh đang giúp khoảng cách giữa nơi sản xuất và người tiêu dùng được thu hẹp đáng kể.

Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đây là dư địa đáng chú ý. Nhiều sản phẩm được tạo nên từ nguyên liệu bản địa, phương thức sản xuất đặc trưng, mang theo những giá trị văn hóa riêng - lợi thế có thể tạo sự khác biệt khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới chất lượng, nguồn gốc và trải nghiệm gắn với sản phẩm.

ảnh 2

Tuy nhiên, thị trường lớn không có nghĩa đầu ra tự nhiên rộng mở. Quy mô sản xuất nhỏ, nguồn cung phân tán, tính mùa vụ, chi phí vận chuyển cao và hạn chế trong tiếp cận hệ thống phân phối vẫn là điểm nghẽn của không ít chủ thể. Để được mua thường xuyên, sản phẩm còn phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, bao bì, thông tin nguồn gốc, sản lượng và giao hàng.

Bởi vậy, chính sách phát triển thị trường trong nước ngày càng chú trọng gắn sản xuất với tiêu dùng. Quyết định số 2269/QĐ-BCT ngày 8/8/2025 của Bộ Công Thương phê duyệt Chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2025-2027. Tiếp đó, Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 5/4/2026 của Chính phủ tiếp tục đặt trọng tâm vào phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước.

tít xen 2

 

Dư địa của thị trường trong nước không chỉ nằm ở quy mô sức mua mà còn ở sự mở rộng của các kênh tiêu thụ, cho phép mỗi nhóm sản phẩm lựa chọn cách tiếp cận phù hợp.

Từ thực tiễn phát triển thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước xác định 5 không gian có thể ưu tiên đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trước hết là hệ thống phân phối hiện đại tại các đô thị và trung tâm tiêu dùng lớn, nơi có sức mua lớn nhưng yêu cầu cao về chất lượng, bao bì, dữ liệu sản phẩm và nguồn cung. Thứ hai là thương mại điện tử, mạng xã hội và bán hàng đa kênh, giúp sản phẩm vùng xa tiếp cận trực tiếp người mua và giới thiệu nguồn gốc, đặc trưng bằng hình ảnh, video, dữ liệu xác thực. Không gian thứ ba gắn với du lịch văn hóa và trải nghiệm, từ điểm du lịch cộng đồng, khách sạn, nhà hàng đến sân bay, nhà ga, điểm dừng chân. Thứ tư là các phân khúc quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và có trách nhiệm. Thứ năm là thị trường tại chỗ và thương mại hai chiều ở miền núi, biên giới, vừa mở đầu ra cho sản phẩm đặc trưng, vừa tăng khả năng tiếp cận hàng Việt có chất lượng của người dân.

Cách tiếp cận này cũng cho thấy không phải sản phẩm nào cũng cần bán đại trà hay bằng mọi giá đưa vào siêu thị. Với sản phẩm có nguồn nguyên liệu giới hạn, mang tính mùa vụ hoặc gắn nhiều với tri thức bản địa, lựa chọn đúng phân khúc, đúng quy mô và đúng câu chuyện có ý nghĩa quan trọng.

ông tuấn

 

Thực tế đã xuất hiện những chuyển động theo hướng đó. Trong mùa vụ năm 2025, mận hậu Sơn La được kết nối vào các hệ thống Saigon Co.op, GO!, WinCommerce và đưa lên các chuyến bay của Vietnam Airlines; riêng Saigon Co.op tăng sản lượng thu mua khoảng 30%. Việc hiện diện ở nhiều kênh cho thấy một nông sản đặc trưng miền núi có thể từng bước giảm phụ thuộc vào một đầu mối tiêu thụ.

 

ảnh 3

Ở quy mô một hợp tác xã, Hợp tác xã Tài Hoan, xã Côn Minh, tỉnh Thái Nguyên cho thấy rõ hơn mối liên hệ giữa tổ chức sản xuất và thị trường. Năm 2025, hợp tác xã tiêu thụ khoảng 5.000 tấn củ dong riềng, tạo thu nhập trên 10 tỷ đồng cho người trồng; sản lượng miến đạt 390 tấn, doanh thu trên 21,4 tỷ đồng, lợi nhuận trên 3 tỷ đồng. Hiện hợp tác xã liên kết khoảng 700 thành viên, duy trì vùng nguyên liệu 70-100 ha.

Không chỉ mở rộng hiện diện tại các điểm bán, nhiều chủ thể ở miền núi đang tìm thêm khách hàng trên không gian số. Theo báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng, trong năm 2025 tỉnh đã hỗ trợ 3 hợp tác xã xây dựng Zalo Mini App để bán hàng, gồm: HTX Sản xuất Nông nghiệp và Dịch vụ tổng hợp Tư Nghĩa; HTX Nông nghiệp Công nghệ Việt Nam; HTX Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Trường Gia Phát, với kinh phí hỗ trợ 115,56 triệu đồng. Tỉnh đồng thời hỗ trợ xây dựng video quảng bá một số nông sản như mắc ca, khoai lang, cà chua Đà Lạt, mứt dâu Đà Lạt trên Vietnam Airlines.

Những chuyển động này đang góp phần mở rộng “địa lý tiêu thụ” của sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: từ thị trường tại chỗ tới đô thị lớn, từ kênh truyền thống tới bán lẻ hiện đại, nền tảng số và những phân khúc tiêu dùng mới.

ông hải

 

tít xen 3

 

Từ một lần xuất hiện trên quầy hàng đến việc được người tiêu dùng tìm mua thường xuyên vẫn là một khoảng cách. Đó cũng là khoảng cách giữa mở được thị trường và giữ được thị trường. Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, thời gian tới có 6 nhóm giải pháp cần được ưu tiên: đổi mới kết nối cung - cầu; phát huy vai trò nhà phân phối; chuyển đổi số thiết thực; nâng chuẩn sản phẩm và niềm tin người tiêu dùng; tổ chức lại logistics theo vùng; đổi mới cách đánh giá hiệu quả chính sách.

Trước hết, kết nối cung - cầu cần chuyển từ từng sự kiện sang một quá trình gồm chọn lọc, chuẩn bị, thử nghiệm và theo dõi. Sản phẩm cần được rà soát theo yêu cầu của từng kênh trước khi kết nối; sau đó tiếp tục theo dõi đơn hàng thử, khả năng tái đặt hàng, những vướng mắc về giao nhận và chất lượng. Một cuộc kết nối chỉ thực sự có ý nghĩa khi sản phẩm có khả năng duy trì trong kênh phân phối.

Cùng với đó, nhà phân phối cần tham gia sớm hơn. Siêu thị, chuỗi bán lẻ, doanh nghiệp du lịch hay nền tảng số có thể đưa ra ngay từ đầu yêu cầu về quy cách, giá, sản lượng và giao hàng, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã điều chỉnh sản xuất theo tín hiệu thị trường.

Với chuyển đổi số, hỗ trợ không thể dừng ở mở gian hàng hay livestream mà phải gắn với quản trị tồn kho, đơn hàng, thanh toán, dữ liệu và chăm sóc khách hàng. Năng lực vận hành phía sau quyết định khả năng chuyển lượt tiếp cận thành đơn hàng và giữ chân người mua.

Song song với mở rộng kênh bán là nâng chuẩn sản phẩm và củng cố niềm tin, từ chất lượng, an toàn, nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ đến truy xuất nguồn gốc và bao bì. Tuy nhiên, chuẩn hóa cần đi cùng việc giữ những đặc trưng làm nên giá trị riêng của sản phẩm bản địa.

Một mắt xích khác là logistics theo vùng, thông qua tổ chức điểm gom, sơ chế, đóng gói, kho và lịch vận chuyển phù hợp, kết nối với mạng lưới bưu chính, logistics, bán lẻ để giảm chi phí và tăng phần giá trị giữ lại cho người sản xuất.

Đặc biệt, cách đánh giá hiệu quả chính sách cũng cần thay đổi. Thay vì chủ yếu đếm số sự kiện, gian hàng hay sản phẩm tham gia, kết quả cần được nhìn qua khả năng duy trì sản phẩm trên kệ, đơn hàng lặp lại, tăng trưởng doanh thu, giảm chi phí, tạo việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng.

thị trường

Định hướng này phù hợp với chính sách phát triển thị trường bán lẻ hiện nay. Ngày 2/7/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1626/QĐ-BCT về Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó có nhiệm vụ nghiên cứu định hướng phát triển thị trường bán lẻ khu vực nông thôn và miền núi giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.

Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thị trường trong nước vì thế không nên coi là nơi tìm đầu ra khi xuất khẩu khó khăn hay nông sản bước vào chính vụ. Mở rộng dòng chảy thị trường không chỉ là đưa hàng hóa tới nhiều nơi hơn, mà quan trọng là sản phẩm được người tiêu dùng lựa chọn và quay lại tìm mua. Khi chính sách hỗ trợ thị trường hướng tới kết quả thì sức cầu trong nước sẽ thực sự trở thành động lực cho sản xuất và sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Bài: Gia Hân

Thiết kế: Quốc Duy

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI