[eMagazine] Tiếp tục hoàn thiện Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Củng cố niềm tin thị trường trong kỷ nguyên số
Cùng với sự phát triển của kinh tế số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số xuyên giới, nhiều mô hình kinh doanh và hành vi cạnh tranh mới xuất hiện, việc sửa đổi, bổ sung Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ góp phần hoàn thiện “hàng rào pháp lý” bảo vệ thị trường lành mạnh, minh bạch hơn.
Trong bối cảnh bùng nổ kinh tế số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, cách thức vận hành của thị trường đang có nhiều thay đổi sâu sắc. Trong môi trường kinh doanh trực tuyến; thông tin, dữ liệu, công nghệ và mô hình nền tảng trở thành những yếu tố ảnh hưởng lớn đến quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, cũng như giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng.
Sự thay đổi này mang lại nhiều cơ hội cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, tuy nhiên cũng làm phát sinh nhiều rủi ro mới như hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh của các nền tảng số, cạnh tranh không lành mạnh dưới hình thức mới, quảng cáo gây nhầm lẫn, thu thập và sử dụng thông tin người tiêu dùng thiếu minh bạch, điều kiện giao dịch bất lợi hoặc khó kiểm soát,…

Trước những đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn nêu trên, Bộ Công Thương đã được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Dự án Luật này nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng về đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để trong lĩnh vực Công Thương. Đặc biệt, việc sửa đổi Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng lần này không chỉ giúp nhận diện hiệu quả hơn các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, cạnh tranh không lành mạnh trong môi trường số, mà còn tăng cường bảo vệ người tiêu dùng trước những rủi ro mới về thông tin, dữ liệu cá nhân, quảng cáo và các điều kiện giao dịch trực tuyến.

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Cạnh tranh xuất phát một số lý do sau đây:
Một là, sự lạc hậu của các tiêu chí truyền thống trong môi trường số.
Các quy định hiện hành về xác định thị trường liên quan và thị phần chủ yếu dựa trên giá cả, doanh thu và sản lượng không còn phản ánh đúng bản chất cạnh tranh trong môi trường số - là nơi có những thị trường “giá bằng không” (zero-price), trong đó sức mạnh thị trường của doanh nghiệp nằm ở hiệu ứng mạng lưới và khả năng kiểm soát dữ liệu thay vì doanh thu thuần túy, chẳng hạn như các hệ sinh thái số, mạng xã hội, trong đó người sử dụng được miễn phí nhưng quảng cáo trên đó phải trả phí.
Hai là, khoảng trống pháp lý đối với các hành vi mới.
Thị trường số có những đặc thù mà các công cụ truyền thống của pháp luật cạnh tranh chưa xử lý được. Thực tiễn cho thấy nhiều hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đặc thù trên hệ sinh thái số như “tự ưu tiên” sản phẩm của mình, áp đặt điều kiện giao dịch không công bằng hoặc lạm dụng dữ liệu người dùng để chèn ép đối thủ vẫn chưa được luật hóa cụ thể. Đồng thời, vai trò của các chủ thể tiếp tay, giúp sức - là chủ thể không trực tiếp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh, nhưng tham gia tư vấn, hỗ trợ về tài chính, công nghệ, kỹ thuật hoặc các phương thức khác để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh hiện đang bị bỏ ngỏ, gây khó khăn cho việc xử lý một cách toàn diện đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh.
Ba là, yêu cầu cải cách hành chính và đồng bộ hóa.
Hệ thống thủ tục hành chính hiện tại về thông báo tập trung kinh tế, đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vẫn còn bộc lộ những điểm nghẽn, tạo gánh nặng chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp, đặc biệt trong một số trường hợp giao dịch tập trung kinh tế ít gây quan ngại về cạnh tranh.

Ngoài bổ sung một số quy định nhằm điều chỉnh hành vi cạnh tranh trong môi trường số, Dự thảo sửa đổi Luật Cạnh tranh lần này còn tập trung vào việc tinh gọn và minh bạch hóa quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo đúng tinh thần Nghị quyết số 66.7 năm 2025 của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu và Nghị quyết số 66.18 năm 2026 của Chính phủ về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Sự thay đổi này được thể hiện qua một số điểm chính như sau:
Cách tiếp cận theo hướng “Luật khung” linh hoạt.
Luật sẽ chỉ quy định những nguyên tắc cốt lõi và thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính, còn các nội dung kỹ thuật, chi tiết về thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính và hồ sơ tham vấn trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính sẽ được giao cho Chính phủ quy định. Cách tiếp cận này phù hợp với kỹ thuật lập pháp hiện đại, đảm bảo tính linh hoạt, dễ điều chỉnh khi thị trường và mô hình kinh doanh thay đổi, mà không cần chờ đợi quy trình sửa Luật phức tạp.
Sửa đổi quy định về các hình thức tập trung kinh tế.
Việc sửa đổi này nhằm đảm bảo kiểm soát các giao dịch gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam, đồng thời, giảm gánh nặng thực hiện thủ tục hành chính đối với những giao dịch không gây tác động và ít có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam, ví dụ như các giao dịch cơ cấu lại doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, kể từ ngày 1/7/2026, các quy định mới về tăng gấp đôi ngưỡng thông báo tập trung kinh tế tại Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ có hiệu lực, số lượng giao dịch tập trung kinh tế phải thực hiện nghĩa vụ thông báo dự kiến sẽ giảm đáng kể (ước tính khoảng 40% so với giai đoạn 2020-2025).
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung quy định về thời hạn áp dụng các điều kiện tại Quyết định về việc tập trung kinh tế có điều kiện nhằm tránh trường hợp các điều kiện không còn phù hợp trên thực tế mà doanh nghiệp vẫn phải thực hiện.
“Số hóa” triệt để thành phần hồ sơ.
Việc yêu cầu doanh nghiệp nộp những loại giấy tờ mà Nhà nước đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu sẽ được loại bỏ, chẳng hạn, các thông tin về tình trạng pháp lý hay ngành nghề kinh doanh sẽ được khai thác trực tiếp từ Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, thay vì yêu cầu doanh nghiệp phải nộp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hay Điều lệ rườm rà như trước đây.
Bãi bỏ các khoản phí thực hiện thủ tục hành chính.
Dự thảo sửa đổi Luật Cạnh tranh lần này bãi bỏ nghĩa vụ nộp phí thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Điều này không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn giúp “tăng tốc” quy trình thụ lý hồ sơ.
“Rút ngắn tối đa” thời gian thực hiện thủ tục hành chính.
Đối với thủ tục đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, thời hạn xem xét tính đầy đủ, đúng quy định của hồ sơ được cắt giảm từ 07 ngày làm việc xuống còn 05 ngày làm việc; thời gian thẩm định hồ sơ cũng được rút ngắn từ 60 ngày xuống chỉ còn 45 ngày.
Có thể nói, các nội dung mới ở dự thảo Luật lần này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm tối đa chi phí tuân thủ, qua đó góp phần giảm bớt gánh nặng chi phí cơ hội cho doanh nghiệp.

Ở góc độ khác, nếu Luật Cạnh tranh tập trung bảo vệ sự công bằng giữa các doanh nghiệp trên thị trường, thì Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ hướng trực tiếp đến người mua, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là xử lý khi hàng hóa kém chất lượng, dịch vụ không đúng cam kết hoặc phát sinh tranh chấp sau giao dịch. Người tiêu dùng cần được bảo vệ ngay từ khi cung cấp thông tin cho tổ chức, cá nhân kinh doanh, đặc biệt là trong các giao dịch trên môi trường số.

Đây cũng chính là lý do Dự thảo Luật tập trung hoàn thiện các quy định về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng. Trong môi trường số hiện nay, thông tin người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng. Việc thu thập thông tin người tiêu dùng tuy không phải là hành vi bị cấm, trong nhiều trường hợp, thông tin này cần thiết để doanh nghiệp xác nhận giao dịch, giao hàng, bảo hành, chăm sóc khách hàng hoặc cung cấp dịch vụ phù hợp hơn.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp vấn đề đặt ra là doanh nghiệp thu thập thông tin gì, thu thập để làm gì, sử dụng trong phạm vi nào, có thông báo rõ cho người tiêu dùng hay không và người tiêu dùng có quyền đồng ý hoặc từ chối hay không.
Tại Dự thảo Luật này đã sửa đổi theo hướng tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thiết lập phương thức rõ ràng để người tiêu dùng lựa chọn mục đích, phạm vi thu thập, sử dụng thông tin mà mình đồng ý cung cấp, đồng thời có quyền bày tỏ sự đồng ý hoặc không đồng ý.
Quy định này sẽ giúp làm rõ nguyên tắc doanh nghiệp được thu thập thông tin người tiêu dùng nếu việc thu thập đó là minh bạch, có mục đích rõ ràng, phạm vi phù hợp và tôn trọng quyền lựa chọn của người tiêu dùng. Ngược lại, việc thu thập âm thầm, thu thập quá mức cần thiết, sử dụng thông tin ngoài mục đích đã thông báo hoặc không cho người tiêu dùng quyền lựa chọn có thể xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.
Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Đây là được xem là công cụ quan trọng để bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch đại chúng, nơi một mẫu hợp đồng có thể được áp dụng cho rất nhiều người. Việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu không nhằm can thiệp quá sâu vào quyền tự do kinh doanh, mà nhằm bảo đảm các điều khoản giao dịch không trái nguyên tắc công bằng, minh bạch và không làm suy giảm quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Đồng thời cũng hoàn thiện một số nội dung liên quan đến thẩm quyền thực thi các quy định về quyền của người tiêu dùng không chỉ để phù hợp với yêu cầu tổ chức bộ máy và phân định thẩm quyền mới mà còn bảo đảm công tác thực thi được triển khai thông suốt, rõ trách nhiệm.
Xuất phát từ những thay đổi thực tế của thị trường, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong Dự thảo Luật mới lần này sẽ không chỉ là việc hoàn thiện kỹ thuật lập pháp mà còn là bước đi quan trọng để xây dựng một thị trường minh bạch hơn, công bằng hơn và an toàn hơn.
Dự thảo Luật được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng; đồng thời tạo nền tảng để doanh nghiệp kinh doanh có trách nhiệm hơn, người tiêu dùng được bảo vệ tốt hơn và niềm tin thị trường được củng cố vững chắc hơn trong giai đoạn phát triển mới.

