[eMagazine] Từ chính sách sinh kế đến động lực thị trường vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
02/10/2026 lúc 10:06 (GMT)

[eMagazine] Từ chính sách sinh kế đến động lực thị trường vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

 

 

Đằng sau mỗi sản phẩm tìm được người mua là cơ hội để một sinh kế được tiếp tục, một nguồn thu được duy trì và sản xuất có điều kiện ổn định hơn. Từ những mô hình liên kết, hợp đồng tiêu thụ đến cách tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, chính sách đang ngày càng đặt rõ yêu cầu gắn sinh kế với thị trường, để nguồn lực hỗ trợ có thể chuyển thành năng lực sản xuất và tạo thu nhập lâu dài cho người dân.

tít xen 1

 

Với 19 hộ trồng mắc ca ở xã Quảng Trực, Lâm Đồng, kết quả đáng kể sau một quá trình được hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng vùng sản xuất VietGAP không chỉ nằm ở tấm chứng nhận vừa được trao. Quan trọng hơn, toàn bộ sản phẩm đạt tiêu chuẩn của họ đã có một đầu ra được xác lập bằng hợp đồng trong ba năm tiếp theo.

ảnh 1

Năm 2025, từ nguồn kinh phí khuyến nông Trung ương, 19 hộ là thành viên Tổ hợp tác sản xuất mắc ca VietGAP xã Quảng Trực tham gia xây dựng 15 ha mô hình, được hỗ trợ phân bón, hướng dẫn kỹ thuật và chứng nhận VietGAP. Tháng 8/2025, Tổ hợp tác ký hợp đồng với Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Long Việt, theo đó toàn bộ sản phẩm mắc ca đạt chuẩn được bao tiêu trong ba năm.

Kết quả sau một năm cho thấy năng suất bình quân của mô hình đạt 1,7 tấn/ha, so với 1,45 tấn/ha ngoài mô hình; giá bán sản phẩm VietGAP cao hơn thông thường từ 3.000-5.000 đồng/kg hạt. Hiệu quả kinh tế tăng bình quân 16,5% so với ngoài dự án. (Nguồn: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Ba năm chưa đủ để bảo đảm đầu ra ổn định cho một vùng sản xuất. Tuy nhiên, hợp đồng được ký sau khi vùng trồng được tổ chức lại, sản phẩm đạt tiêu chuẩn đã tạo ra một thay đổi đáng kể: thay vì tự tìm nơi tiêu thụ sau mỗi vụ thu hoạch, người trồng đã có đầu ra được xác lập ngay trong mô hình sản xuất.

Ở phía Bắc, mô hình tại xã Đường Hồng, Tuyên Quang cũng cho thấy đầu ra được đưa vào ngay từ khâu tổ chức sản xuất. Đến cuối năm 2025, vùng trồng gừng Trâu ruột vàng đạt khoảng 120 ha với 76 hộ tham gia. Hợp tác xã Sơn Ý đảm nhiệm tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật và tập hợp sản lượng; Công ty Vinasamex ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá cam kết tối thiểu 10.000 đồng/kg. Theo ông Đỗ Việt Dũng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đường Hồng, việc chuyển đổi cây trồng được tính toán trên cả điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường.

ảnh 2

Hai trường hợp ở 2 vùng sản xuất khác nhau cho thấy một điểm chung: khi đầu ra được tính đến từ đầu, yêu cầu của thị trường bắt đầu tác động trở lại cách tổ chức sản xuất. Người dân không chỉ cần làm ra nhiều hơn, mà phải sản xuất theo quy trình, bảo đảm chất lượng, tập hợp được nguồn hàng và thực hiện những cam kết với bên mua.

Đó cũng là vấn đề chính sách sinh kế đang phải giải quyết khi mục tiêu không dừng ở hỗ trợ một vụ sản xuất, mà hướng tới tạo việc làm, thu nhập và khả năng duy trì hoạt động sản xuất của người dân.

tít 2

 

Trong giai đoạn 2021-2025, hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo đã trở thành một hợp phần quan trọng của các chương trình mục tiêu quốc gia. Thực tiễn triển khai đồng thời đặt ra một yêu cầu ngày càng rõ: với những địa bàn có điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa, hỗ trợ cần đi cùng liên kết chuỗi, doanh nghiệp và thị trường.

Định hướng đó tiếp tục được thể hiện trong chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035 tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội. Một trong những mục tiêu quan trọng là phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền.

ảnh 3

Mục tiêu đã có, nhưng từ mục tiêu nâng thu nhập đến một sinh kế có khả năng tạo nguồn thu ổn định còn là cả quá trình. Điểm đáng chú ý nằm ở cách cơ chế thực hiện chính sách đã đặt sản xuất trong mối quan hệ rộng hơn với thị trường.

Nghị định số 358/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định dự án phát triển sản xuất bao gồm các hoạt động từ sản xuất, chế biến đến phân phối, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường. Với dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, các chủ thể tham gia ở những khâu khác nhau thông qua hợp đồng liên kết nhằm phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và “bảo đảm đầu ra cho hàng hóa, dịch vụ”.

ảnh 4

 

Quy định về lựa chọn dự án còn yêu cầu chủ trì liên kết và các đối tượng liên kết phải có hợp đồng hoặc biên bản hợp tác trong các khâu từ đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng đầu vào, tổ chức sản xuất đến thu hoạch, sơ chế, chế biến, thu mua và tiêu thụ sản phẩm. Dự án đồng thời phải xác định được kết quả về tạo việc làm, mức tăng thu nhập và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Như vậy, trong cơ chế chính sách, “phát triển sản xuất” không còn được hiểu đơn thuần là hỗ trợ người dân có giống, vật tư hay phương tiện để tạo ra sản phẩm. Khâu tiêu thụ đã được đặt ngay trong cấu trúc của dự án; còn với liên kết chuỗi giá trị, đầu ra trở thành một trong những mục tiêu phải được xác định.

ông trung

Thực tế giai đoạn trước cho thấy nền tảng của cách tiếp cận này đã từng bước hình thành. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giai đoạn 2021-2025 đã triển khai 403 dự án hỗ trợ sản xuất theo chuỗi giá trị và 2.562 dự án phát triển sản xuất cộng đồng, thu hút hàng chục nghìn hộ tham gia. Bộ Dân tộc và Tôn giáo đánh giá các dự án đã góp phần thay đổi tư duy từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, tăng liên kết với doanh nghiệp và thị trường.

infor

 

Từ năm 2026, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục bố trí nguồn lực mà còn phải nâng hiệu quả thực chất của chính sách. Tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ngày 9/7/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu lấy kết quả thực hiện và hiệu quả tác động đến người dân làm căn cứ đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu.

Riêng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Thủ tướng yêu cầu Bộ Dân tộc và Tôn giáo bảo đảm chính sách thực hiện “đúng địa bàn, đúng đối tượng và đúng nhu cầu thiết yếu”, đồng thời tập trung theo dõi việc giải quyết các nhu cầu cấp thiết, trong đó có đất sản xuất và sinh kế của người dân.

Đặt yêu cầu này bên cạnh cơ chế phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị cho thấy hiệu quả của hỗ trợ sinh kế cần được nhìn xa hơn thời điểm giải ngân hay hoàn thành dự án. Với những mô hình hướng tới sản xuất hàng hóa, tác động cuối cùng còn nằm ở việc người dân có duy trì được sản xuất, tạo được thu nhập và tham gia ngày càng chủ động hơn vào các mối liên kết thị trường hay không.

ảnh 5

 

Tháng 8/2026, Quốc hội tiếp tục thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình đã được phê duyệt trước đó, trong đó có chương trình theo Nghị quyết số 257/2025/QH15. Trong khuôn khổ mới, phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục gắn với phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp chênh lệch phát triển.

Sự tiếp nối này cũng đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với cách sử dụng nguồn lực: hỗ trợ sinh kế cần tạo được năng lực sản xuất, nhưng sản xuất chỉ có thể tạo thu nhập bền hơn khi sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và tìm được đầu ra. Chính ở điểm đó, câu chuyện sinh kế gặp câu chuyện thị trường.

tít 3

 

Nếu Quảng Trực và Đường Hồng cho thấy vai trò của hợp đồng bao tiêu đối với những mô hình sản xuất nông nghiệp, ở vùng Bảy Núi, An Giang, mối quan hệ giữa sinh kế và thị trường lại hiện ra trong câu chuyện của một nghề truyền thống.

Nghề dệt thổ cẩm Khmer tại ấp Srây Skốth, xã An Cư đã được truyền qua nhiều thế hệ. Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Văn Giáo được thành lập với hơn 70 hộ, trên 120 thành viên tham gia. Từ những tấm vải trước đây chủ yếu phục vụ nhu cầu trong cộng đồng, sản phẩm thổ cẩm dần được đa dạng hóa, xây dựng nhãn hiệu và đưa tới nhiều người mua hơn. Sản phẩm sà rông thổ cẩm Khmer Văn Giáo đã được công nhận OCOP 3 sao. 

ảnh 6

 

Theo UBND tỉnh An Giang, hoạt động dệt mang lại thu nhập khoảng 2-5 triệu đồng/tháng cho phụ nữ tham gia, tùy theo tay nghề. Tháng 5/2026, 37 thành viên Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Khmer xã An Cư tiếp tục được hỗ trợ tổng cộng 188 triệu đồng vốn không tính lãi để đầu tư nguyên vật liệu, máy dệt, nâng chất lượng và đa dạng sản phẩm. Thực tế, 188 triệu đồng không phải nguồn lực lớn nếu nhìn ở quy mô một chương trình, nhưng đặt vào từng khung dệt, từng hộ thành viên, ý nghĩa của khoản vốn phụ thuộc rất nhiều vào việc những sản phẩm làm ra sau đó có tiếp tục được thị trường đón nhận hay không. Khi có đầu ra, vốn có thể quay trở lại chu kỳ sản xuất, người thợ có thêm thu nhập và nghề truyền thống có thêm cơ sở kinh tế để được duy trì. Đó cũng là lý do chính sách hỗ trợ sinh kế và chính sách thị trường cần gặp nhau ở sản phẩm. Nhà nước có thể hỗ trợ vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tạo điều kiện hình thành liên kết; nhưng khả năng duy trì nguồn thu cuối cùng vẫn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, năng lực của người sản xuất và sức mua của thị trường.

ảnh 7

Trở lại Quảng Trực, 19 hộ trồng mắc ca đã đi qua một chu trình khá rõ: từ hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức vùng sản xuất, đạt tiêu chuẩn VietGAP đến ký hợp đồng tiêu thụ. Sau một năm, năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình đều cao hơn sản xuất đại trà; sản phẩm đạt chuẩn có mức giá tốt hơn và có đơn vị thu mua.

Thời gian 3 năm bao tiêu chưa thể bảo đảm một thị trường lâu dài nhưng điều đáng kể là sau dự án, người trồng đã có thêm một chuẩn sản xuất để tuân thủ, một bên mua để liên kết và những yêu cầu thị trường cụ thể để tiếp tục đáp ứng. Đó là phần giá trị cần được giữ lại sau mỗi chính sách hỗ trợ: không chỉ những gì người dân được nhận trong thời gian thực hiện dự án, mà cả khả năng tiếp tục sản xuất và tạo thu nhập khi sản phẩm của họ bước vào những quan hệ thị trường thực sự.

 

Bài: Hà Đan

Thiết kế: Quốc Duy

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI