[eMagazine] Từ lực đẩy chính sách đến sức bật thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
23/09/2026 lúc 16:09 (GMT)

[eMagazine] Từ lực đẩy chính sách đến sức bật thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

 

Hỗ trợ tiêu thụ, mở rộng thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một trong những nhiệm vụ được Bộ Công Thương tập trung triển khai trong những năm qua. Từ phát triển thương mại hai chiều, kết nối cung - cầu đến mở rộng hệ thống phân phối, thương mại điện tử và nâng cao năng lực chủ thể, các chính sách từng bước tạo thêm cơ hội để sản phẩm của vùng tiếp cận thị trường.

 

tít xen 1

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) có nhiều sản phẩm đặc trưng, lợi thế gắn với điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất và tri thức bản địa. Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ, hạ tầng thương mại chưa đồng bộ, chi phí vận chuyển cao, khả năng tiếp cận thông tin thị trường và năng lực tổ chức kinh doanh còn hạn chế là những trở ngại lớn đối với quá trình mở rộng đầu ra. Để giải quyết bài toán này, trong giai đoạn 2021 - 2025, nhiều chính sách đã được triển khai theo hướng đồng thời hỗ trợ phát triển sản xuất, tổ chức lưu thông và mở rộng thị trường.

Một trong những căn cứ quan trọng là Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025. Trong lĩnh vực Công Thương, hai nhóm nhiệm vụ được tập trung triển khai gồm hỗ trợ đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp mạng lưới chợ vùng đồng bào DTTS; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm để hàng hóa của vùng tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước và từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu.

ảnh 1

 

Cùng thời gian này, Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo giai đoạn 2021 - 2025 theo Quyết định số 1162/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 đặt mục tiêu phát triển các sản phẩm, hàng hóa có thương hiệu, đặc trưng, đặc sản, tiềm năng, lợi thế để đưa vào hệ thống phân phối trong và ngoài nước; xây dựng hệ thống phân phối hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo chuỗi và phát triển đội ngũ thương nhân, doanh nghiệp tại khu vực này.

Bên cạnh đó là các chính sách về phát triển thị trường trong nước, đổi mới phương thức kinh doanh và tiêu thụ nông sản, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, khuyến công... Qua đó, công cụ hỗ trợ được mở rộng từ hội chợ, giới thiệu sản phẩm sang kết nối cung - cầu, phát triển hệ thống phân phối, xây dựng thương hiệu, cung cấp thông tin thị trường và nâng cao năng lực thương mại.

Mô hình thương mại hai chiều là một trong những cách cụ thể hóa chính sách. Bộ Công Thương đã hỗ trợ 7 địa phương gồm Tuyên Quang, Kon Tum, Bình Định, Thừa Thiên Huế, Bắc Kạn, Quảng Trị và Nghệ An triển khai nhiệm vụ xây dựng mô hình nhằm vừa thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm vùng DTTS&MN, vừa cung ứng hàng hóa thiết yếu cho địa phương.

Mô hình tạo dòng lưu chuyển hàng hóa theo hai hướng: đưa hàng Việt, hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất tới khu vực miền núi; đồng thời hình thành điểm thu mua, giới thiệu, kết nối sản phẩm của địa phương với thị trường bên ngoài. Cùng với đó, hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu, xây dựng cẩm nang giới thiệu đặc sản và đào tạo, tập huấn cho hàng nghìn cán bộ tại các tỉnh, thành phố được triển khai trong quá trình thực hiện Chương trình.

thứ trưởng Tân

 

tít xen 2

 

Trong giai đoạn thực hiện Chương trình 1719, Bộ Công Thương đã phối hợp với các địa phương tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu, hỗ trợ phát triển mô hình tiêu thụ và nâng cao năng lực cho chủ thể. Năm 2023, Bộ Công Thương tổ chức đoàn công tác đi kiểm tra tại 14 tỉnh, thành phố nhằm đánh giá việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vùng DTTS&MN và nhiệm vụ đầu tư, cải tạo mạng lưới chợ, qua đó nhận diện khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

Thực tế cho thấy, các mô hình hỗ trợ đã tạo thêm những đầu mối kết nối sản phẩm với thị trường. Tại An Lão, Bình Định (cũ), mô hình thương mại hai chiều được xây dựng tại Hợp tác xã Nông dược và Dịch vụ tổng hợp An Toàn. Hoạt động này vừa hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm của người dân, vừa cung ứng hàng hóa thiết yếu và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.

Ở phạm vi rộng hơn, chính sách xúc tiến thương mại tạo thêm dư địa để doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp cận các hệ thống phân phối. Trước đó, thông qua các hội nghị, hội thảo quảng bá và kết nối tại Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Kiên Giang, Quảng Ninh..., Bộ Công Thương và các địa phương đã kết nối hơn 60 doanh nghiệp, với trên 80 hợp đồng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

  

ảnh 2

 

Thương mại điện tử cũng trở thành một kênh hỗ trợ đáng chú ý. Việc phối hợp với các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và các kênh bán hàng trực tuyến giúp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tại chỗ. Với các khu vực chịu bất lợi về khoảng cách địa lý và chi phí lưu thông, kênh số mở thêm khả năng quảng bá, giao dịch và tiếp cận người tiêu dùng ngoài địa phương.

Một chuyển biến khác là sự tham gia ngày càng rõ của các doanh nghiệp phân phối. Hệ thống bán lẻ không chỉ tạo điểm bán mà còn hỗ trợ nhà sản xuất hoàn thiện hồ sơ, thủ tục, tiêu chuẩn và cách thức đưa sản phẩm vào kênh hiện đại. Thực tế triển khai cho thấy, nhu cầu đối với đặc sản vùng miền và nông sản an toàn khá lớn, nhưng nguồn cung có thời điểm bị gián đoạn do quy mô sản xuất nhỏ, sản lượng hạn chế; vận chuyển từ vùng miền núi tới các trung tâm phân phối cũng còn nhiều khó khăn.

 

ảnh 3

Mô hình “Sinh kế cộng đồng” của Central Retail là một trường hợp cho thấy doanh nghiệp phân phối có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi hỗ trợ, từ đồng hành với người sản xuất đến tổ chức đầu ra qua hệ thống bán lẻ. Tháng 5/2025, Bộ Công Thương và Central Retail Việt Nam ký biên bản ghi nhớ hợp tác, trong đó có nội dung tiếp tục xây dựng chuỗi giá trị tiêu thụ sản phẩm cho người dân, đặc biệt tại vùng DTTS&MN, gắn với phát triển các mô hình sinh kế cộng đồng.

ảnh 4

 

Những hoạt động này cho thấy phạm vi hỗ trợ tiêu thụ đã được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, khả năng duy trì trong hệ thống phân phối vẫn phụ thuộc vào chất lượng, sản lượng, bao bì, truy xuất nguồn gốc, năng lực giao hàng và khả năng tổ chức kinh doanh của từng chủ thể. Vì vậy, mở thêm kênh thị trường phải đi cùng nâng sức cạnh tranh của nguồn cung.

tít xen 3

Sau một giai đoạn triển khai, sản phẩm vùng DTTS&MN đã có thêm nhiều kênh tiếp cận thị trường: mô hình thương mại hai chiều, hội chợ và kết nối cung - cầu, hệ thống bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử. Tuy nhiên, mở rộng kênh phân phối chưa đồng nghĩa với đầu ra ổn định. Những hạn chế về quy mô nguồn hàng, chất lượng chưa đồng đều, chi phí logistics, khả năng đáp ứng đơn hàng và năng lực kinh doanh vẫn là điểm nghẽn. Điều này đặt ra yêu cầu chính sách phải chuyển mạnh hơn từ hỗ trợ đưa sản phẩm tới thị trường sang nâng khả năng đáp ứng thị trường.

ảnh 4

 

Sự chuyển hướng này diễn ra trong bối cảnh hệ thống chính sách xúc tiến thương mại ngày càng được mở rộng. Thông tin tại Hội nghị tổng kết công tác xúc tiến thương mại năm 2025 cho thấy, giai đoạn 2021 - 2025, Bộ Công Thương phê duyệt 630 đề án thuộc Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại, tổng kinh phí hơn 650 tỷ đồng, hỗ trợ trực tiếp hơn 41.000 lượt doanh nghiệp và hợp tác xã trên cả nước. Riêng năm 2025 có 114 đề án, trong đó 33 đề án thúc đẩy thị trường trong nước; hơn 7.200 lượt doanh nghiệp được hỗ trợ tham gia 1.720 gian hàng tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước.

ảnh 5

 

ảnh 6

 

Đây không phải là kết quả riêng của chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vùng DTTS&MN, nhưng cho thấy các chủ thể của vùng đang đứng trước một hệ thống công cụ phát triển thị trường rộng hơn. Vấn đề là làm thế nào để kết nối hiệu quả các chính sách đó với nhu cầu và năng lực thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất miền núi.

Trong giai đoạn tiếp theo, hỗ trợ tiêu thụ vì vậy cần được đặt trong mối liên kết đồng bộ giữa phát triển nguồn cung, xúc tiến thương mại, hệ thống phân phối, thương mại điện tử, logistics, truy xuất nguồn gốc và thông tin thị trường. Chính sách không chỉ tạo cơ hội giới thiệu sản phẩm mà cần góp phần nâng năng lực để chủ thể đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Khuôn khổ mới tiếp tục đặt ra yêu cầu tăng tính liên kết, phối hợp và hiệu quả sử dụng nguồn lực trong thực hiện chính sách.

Đối với lĩnh vực Công Thương, kinh nghiệm giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vùng DTTS&MN cần tiếp tục bám sát nhu cầu thị trường. Cùng với mở rộng kết nối cung - cầu, cần nâng chất lượng nguồn cung, phát triển hệ thống phân phối, khai thác thương mại điện tử, cải thiện logistics và nâng cao năng lực kinh doanh cho các chủ thể.

Từ các mô hình thương mại hai chiều, hoạt động kết nối cung - cầu đến hệ thống phân phối hiện đại và nền tảng số, chính sách đã từng bước mở rộng không gian thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Khi những kết nối ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả của chính sách cũng được thể hiện rõ hơn bằng khả năng tiêu thụ, giá trị sản phẩm và sinh kế của người dân.

 

ông tính

 

Bài: Gia Hân

Thiết kế: Quốc Duy

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI