Một số giải pháp công nghệ đảm bảo nguồn dầu thô cho nhà máy lọc dầu Dung Quất

Nhà máy lọc dầu Dung Quất (DQR) có công suất lọc dầu 6,5 triệu tấn/năm (tương đương với số lượng đầu vào là 145.000 thùng dầu thô/ngày). Theo thiết kế, đến năm 2015, nguồn nguyên liệu đầu vào cho Nhà

Tỷ trọng số DN công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam chỉ bằng 1/5 tổng số doanh nghiệp công nghiệp. Nếu tính theo giá trị sản xuất của ngành chế biến, thì nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm 19,9%, trong đó, khối doanh nghiệp công nghiệp tư nhân chưa đạt 10%, còn thấp hơn tỷ lệ số DN thuộc các ngành công nghệ trung bình (28,9%); các ngành công nghệ thấp (51,2%). Nếu tính theo giá trị tăng thêm, thì tỷ trọng nhóm ngành công nghệ cao của nước ta còn thấp hơn nữa, vì phần lớn những ngành công nghệ cao chủ yếu là sản xuất lắp ráp, là ngành tuy có giá trị sản xuất lớn, nhưng lại có giá trị gia tăng nhỏ, như lắp ráp sản phẩm điện tử, lắp ráp ôtô, xe máy… các DN tư nhân trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin còn rất nhỏ và phần lớn sử dụng công nghệ lạc hậu. Thiết bị văn phòng, máy tính chỉ chiếm 0,4% giá trị sản xuất công nghiệp; sản xuất thiết bị điện, điện tử, viễn thông chiếm 4,7%; sản xuất thiết bị chính xác chỉ chiếm 0,2%. Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, nhất là các ngành sản xuất máy móc phát triển chậm, phần lớn vẫn dừng ở việc sản xuất những máy móc thông thường và phụ tùng thông thường, tỷ trọng trong toàn ngành công nghiệp lâu nay chỉ xoay quanh con số từ 1,5 – 1,6% và chưa có dấu hiệu tăng lên. Tỷ trọng DN công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam thấp, trong khi tỷ trọng nhóm ngành công nghệ thấp lại rất cao.

 Tỷ trọng các ngành công nghệ cao, trung bình và thấp tính theo giá trị sản xuất thực tế trong lĩnh vực chế biến của một số nước ASEAN

Bảng 1

Nước

Nhóm ngành công nghệ

Ghi chú

Thấp

Trung bình

Cao

Thái Lan

42,7

26,5

30,8

* Số liệu các nước là năm 1998, số liệu Việt Nam là năm 2005.

Singapore

10,5

16,5

73

Malaysia

24,3

24,6

51,1

Indonexia

47,7

22,6

29,7

Philippin

45,2

25,7

29,1

Việt Nam

51,2

28,9

19,9

Nguồn: Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển - Tổng cục Thống kê

            Mặc dù số DN công nghiệp NQD tăng nhanh, nhưng quy mô doanh nghiệp nhỏ. Có tới 77,7% số DN có mức vốn dưới 10 tỷ đồng, chỉ có 2,3% DN có từ 200 tỷ đồng trở lên. Bình quân, 1 cơ sở sản xuất công nghiệp đầu năm 2005 chỉ có 6,4 lao động; 0,99 tỷ đồng vốn; 0,54 tỷ đồng tài sản cố định; Mức trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động chỉ đạt 84,4 triệu đồng. Điều này cho thấy mức trang bị, công nghệ của DN công nghiệp Việt Nam còn quá thấp.

Quy mô bình quân cơ sở sản xuất công nghiệp Việt Nam năm 2005

Bảng 2

 

Chỉ tiêu

 

Đơn vị tính

Cơ sở sản xuất công nghiệp

Doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp ngoài nhà nước

Cơ sở cá thể

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Số lao động 

Lao động

654

64

2,5

414

- Vốn

Tỷ đồng

213,2

7,2

0,037

129,3

- Tài sản cố định

Tỷ đồng

120,2

3,0

0,026

74,9

- Trang bị tài sản cố định cho một lao động

triệu đồng

183,8

46,9

10,4

180,9

Nguồn: Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển - Tổng cục Thống kê

            Do trình độ công nghệ của DN công nghiệp thấp, nên năng suất lao động thấp, suất tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu cao, dẫn đến giá thành sản phẩm cao, làm cho sức cạnh tranh của DN cũng như sản phẩm yếu. Mặt khác, DN đang đứng trước nghịch lý là cần khấu hao nhanh để thu hồi vốn, nhưng nếu khấu hao nhanh, giá thành, giá bán lại cao, không thể cạnh tranh được.

            Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, phần lớn các công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam đều lạc hậu nhiều so với các nước tiên tiến trên thế giới, do đó hạn chế khả năng sản xuất những sản phẩm có tính cạnh tranh. Việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam hiện nay đang gặp nhiều khó khăn cần được tháo gỡ.

- Thứ nhất: DN thiếu hiểu biết thị trường do công tác nghiên cứu nhu cầu, tiếp thị yếu và thiếu thông tin về thị trường công nghệ. Trên thực tế, hành trình tìm mua công nghệ của DN công nghiệp Việt Nam gần như chưa có được sự hỗ trợ, từ phía Nhà nước trong lĩnh vực tìm kiếm thông tin.

- Thứ 2: Thiếu hiểu biết về công nghệ thích hợp do không tiến hành các nghiên cứu hệ thống về công nghệ, công tác nghiên cứu thị trường còn yếu kém,

- Thứ 3: Thiếu vốn. Phần lớn các DN công nghiệp Việt Nam đều có quy mô vừa và nhỏ, nhất là các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân, nên việc đổi mới công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi thị trường vốn trung hạn và dài hạn trong nước gần như chưa phát triển, nên DN ít có khả năng lựa chọn nguồn vốn, mà gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn ngân hàng.

- Thứ 4: Thủ tục đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian vì cần quá nhiều cấp xét duyệt gây lãng phí tiền bạc, đôi khi mất cơ hội kinh doanh của DN, đặc biệt là đối với các DN công nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước.

- Thứ 5: Trình độ đội ngũ quản lý DN còn yếu kém, đặc biệt là chủ DN tư nhân, cùng với một bộ phận không nhỏ người lao động chưa được đào tạo, hoặc vì lớn tuổi nên không tiếp thu được công nghệ mới, không ủng hộ đổi mới công nghệ.

- Thứ 6: Một bộ phận không nhỏ lãnh đạo các DN công nghiệp nhà nước vẫn còn tâm lý trì trệ, bám vào Nhà nước, nên thiếu quyết tâm trong đổi mới công nghệ do không phải chịu sức ép cạnh tranh.

            Để tạo thuận lợi cho các DN công nghiệp Việt Nam trong việc đổi mới công nghệ, giúp DN có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Hỗ trợ tạo lập thị trường công nghệ thống nhất trong cả nước, nhằm cung cấp đẩy đủ thông tin về công nghệ, thị trường, các bên cần mua, cần bán để giúp DN có cơ hội cập nhật, lựa chọn và xác lập phương án đổi mới công nghệ tốt nhất. Đồng thời xây dựng cơ chế gắn kết giữa DN với các tổ chức nghiên cứu triển khai và các nhà khoa học.

- Có chính sách thông thoáng hơn trong việc giúp DN tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư đổi mới công nghệ, đặc biệt là với các DN công nghiệp tư nhân.

- Hỗ trợ DN trong việc đào tạo đội ngũ để có thể lựa chọn, tiếp thu, vận hành và làm chủ công nghệ.

- Đẩy mạnh cải cách, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn bao cấp và hỗ trợ đối với DNNN, có cơ chế thông thoáng để DNNN tham gia chủ động, tích cực vào việc đổi mới công nghệ.

- Thực hiện tốt chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

- Xây dựng và thực hiện những chương trình phổ biến rộng rãi khoa học kỹ thuật, khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ.

Tổng Công ty Thương mại Dầu khí (Petechim), đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí quốc gia  Việt Nam được giao nhiệm vụ đảm bảo nguồn dầu thô, hoá phẩm và chất xúc tác cho Nhà máy lọc dầu với các nhiệm vụ như, cung cấp dầu thô phù hợp với cấu hình và công nghệ của DQR, phù hợp với kế hoạch vận hành của Nhà máy theo giá cả thị trường, đảm bảo nguồn cung ổn định, mang tính dài hạn, và đạt hiệu quả cao. Do nguồn dầu thô trong nước giảm dần, vì vậy cần tăng tỷ trọng sử dụng dầu thô nhập khẩu để thay thế nguồn dầu thô khai thác trong nước, đồng thời từng bước đa dạng hoá nguồn cung theo chủng loại (theo đặc tính hoá lý) và xuất xứ (theo khu vực châu á, Trung Đông, Châu phi, …) đảm bảo an toàn nguồn cung và an ninh năng lượng của đất nước. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, Tổng công ty Petechim đã xây dựng kế hoạch đảm bảo cung cấp dầu thô là nguyên liệu đầu vào cho Nhà máy như sau:

 

-         Giai đoạn chạy thử (06/2008 - 02/2009): đảm bảo 100% nguồn dầu ngọt Bạch Hổ do Vietsovpetro khai thác với khối lượng 160.000 tấn (tương đương 2 chuyến tàu Aframax)

-         Giai đoạn bảo hành của Nhà máy lọc dầu được xác định từ 04/2009 – 04/2011, sẽ sử dụng 100% lượng dầu ngọt (từ mỏ Bạch Hổ và loại dầu ngọt tương đương) với khối lượng theo thiết kế Nhà máy là 6,5triệu tấn/năm. Giai đoạn này, sản lượng dầu thô mỏ Bạch Hổ chỉ đảm bảo 80 - 85% nhu cầu, còn 15 - 20% phải sử dụng các loại dầu thô nhập khẩu.

-         Giai đoạn từ 04/2011 đến năm 2015, Nhà máy vẫn sử dụng loại dầu ngọt và dự kiến lượng nhập khẩu sẽ chiếm đến 50% nhu cầu nguồn dầu thô. Lúc này, Nhà máy sẽ chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để sử dụng công nghệ lọc dầu hỗn hợp dầu ngọt và dầu chua.

-         Giai đoạn sau năm 2015, Nhà máy sẽ tiến hành công nghệ lọc dầu hỗn hợp ngọt và chua với cơ cấu 1 ngày lọc dự kiến là 60 ngàn thùng dầu ngọt Việt Nam, 65 ngàn thùng dầu ngọt nhập khẩu và 20 ngàn thùng dầu chua nhập khẩu (dầu Dubai hoặc loại dầu tương đương). Tỷ lệ lọc hỗn hợp dầu ngọt và dầu chua theo thiết kế là: 5,5 : 1,0.

v           Tiến độ cung cấp dầu thô cho nhà máy lọc dầu được thể hiện ở bảng sau

Đvt: Triệu tấn/ngày

 

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

Sau 2015

Dầu ngọt Việt Nam

17,8

17,8

15,3

12,9

10,4

8

7,3

7,3

Dầu ngọt nhập khẩu

0

0

2,5

4,9

7,4

7,3

8

8

Dầu chua nhập khẩu

0

0

0

0

0

2,5

2,5

2,5

Tổng cộng

17,8

17,8

17,8

17,8

17,8

17,8

17,8

17,8

Ngoài các điều kiện về cầu cảng, cơ sở hạ tầng dịch vụ, kho chứa, các yếu tố về thời tiết…, để đảm bảo cho Nhà máy vận hành có hiệu quả, cần nghiên cứu và có các giải pháp, công nghệ hợp lý để tháo gỡ các khó khăn:

 1.            Khó khăn liên quan đến công nghệ lọc dầu của Nhà máy:

Phải tính đến khả năng công nghệ lọc các loại dầu khác nhau, chuẩn bị tiến tới lọc dầu hỗn hợp có pha trộn dầu chua và ngọt mà các đặc tính hoá lý chưa xác định được. Đồng thời cần thử nghiệm hoán đổi các loại dầu nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất cho Nhà máy.

2.            Khó khăn liên quan đến nguồn cung:

Khả năng chuyển đổi nguồn cung rất hạn chế, nguồn dầu thô khai thác từ mỏ Bạch Hổ sẽ  giảm dần và chỉ đáp ứng 1 phần cho Nhà máy từ sau năm 2010. Bên cạnh đó, các loại dầu khác để thay thế hoặc pha trộn với dầu Bạch Hổ chưa được xác định cụ thể. Các loại dầu nước ngoài khác nhập khẩu phục vụ cho Nhà máy cũng chưa được bàn bạc thống nhất thoả thuận với các đối tác.

3.            Các khó khăn và thách thức khác như:

Nếu sử dụng dầu khai thác từ Bạch Hổ cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, theo đánh giá của nhiều chuyên gia nước ngoài và của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là chưa thực sự kinh tế, vì hiện nay giá dầu Bạch Hổ (OSP Bạch Hổ - Oil Selling Price) thuộc loại dầu đắt nhất thế giới. Nếu giá đầu vào cao thì dẫn đến giá đầu ra phải cao. Như vậy, vấn đề hiệu quả kinh tế ở đây cần phải được cân nhắc kỹ hơn. Một trong những phương án khả thi là bán dầu Bạch Hổ để nhập loại dầu tương đương có giá thấp hơn. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu để có cơ chế thích hợp ngay từ bây giờ.

Để đảm bảo dầu thô cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất từ giữa năm 2008, việc chuẩn bị các phương án, các điều kiện và cơ chế chính sách để đưa Nhà máy vào hoạt động đảm bảo hiệu quả cao, ngay từ bây giờ đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chỉ đạo thực hiện. Ngoài Tổng Công ty Thương mại Dầu khí (PETECHIM) là đơn vị được chỉ định đảm bảo nguồn cung dầu thô, hoá chất và phụ gia cho Nhà máy lọc dầu và phân phối một phần sản phẩm xăng dầu, các đơn vị còn lại như: PV Trans, PTSC, PDC cũng đã được giao nhiệm vụ vận chuyển, bảo trì, bảo hành và tiến hành phân phối sản phẩm.

Cùng với việc đề xuất các giải pháp trên và chuẩn bị cho việc tính toán đầu vào, đầu ra cho sản phẩm các Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là cấp bách mà Petrovietnam, PETECHIM, Nhà máy và các đơn vị được giao phó cùng các bộ ban ngành cần phải nghiên cứu thực hiện đảm bảo hiệu quả cao nhất và an toàn, tiết kiệm nhất.

 

 

  • Tags: