Nhân tố tác động đến phát triển Logistics xanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Bài báo Nhân tố tác động đến phát triển Logistics xanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội do Vũ Thị Minh Ngọc (Khoa Kinh tế vận tải, Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải) thực hiện.

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm khám phá các nhân tố tác động đến phát triển logistics xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy 6 nhóm nhân tố cốt lõi bao gồm: (1) Nhân tố nội tại doanh nghiệp (cam kết lãnh đạo, năng lực tài chính, quản trị vận hành); (2) Công nghệ - kỹ thuật (phương tiện xanh, quản lý vận tải thông minh, IoT); (3) Chính sách và quản lý nhà nước (tiêu chuẩn xanh, ưu đãi thuế, quy hoạch hạ tầng); (4) Thị trường và các bên liên quan (yêu cầu của khách hàng, áp lực chuỗi cung ứng toàn cầu); (5) Hạ tầng và điều kiện đô thị Hà Nội (tắc nghẽn giao thông, hệ thống kho bãi); và (6) Nhận thức và văn hóa bền vững trong doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý và doanh nghiệp trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi xanh cho ngành logistics tại Hà Nội.

Từ khóa: logistics xanh, nhân tố tác động, Hà Nội, phát triển bền vững, công nghệ logistics, hạ tầng đô thị, chính sách hỗ trợ.

1. Đặt vấn đề

Trên thế giới, logistics xanh đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng cam kết giảm phát thải carbon và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Ở Việt Nam, các chương trình liên quan đến tăng trưởng xanh và giảm phát thải đang được triển khai, tuy nhiên mức độ áp dụng logistics xanh trong doanh nghiệp còn hạn chế, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội - nơi có mật độ doanh nghiệp logistics cao và nhu cầu vận chuyển hàng hóa không ngừng gia tăng. Tuy nhiên, hoạt động logistics tại Hà Nội cũng đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí, phát thải khí nhà kính và tiêu thụ năng lượng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về phát triển logistics xanh.

2. Cở sở lý luận

2.1. Khái niệm về logistics xanh

Green Logistics (logistics xanh) là khái niệm mô tả các hoạt động logistics được thiết kế và vận hành với mục tiêu giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, bao gồm giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên trong toàn bộ chuỗi cung ứng: vận tải, lưu kho, đóng gói, xử lý hàng hóa… 

Theo định nghĩa phổ biến, logistics xanh không chỉ nhằm giảm thiểu “tác hại môi trường”, mà còn hướng đến cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường - tức là hướng tới phát triển bền vững. 

2.2. Đặc điểm về logistics xanh

Thứ nhất, là kho vận xanh. Bố trí kho hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển, tăng cường kiểm soát lưu trữ, cải thiện tỷ lệ doanh thu hàng hóa, và giảm thiểu khiếm khuyết, hàng hóa bị hư hỏng hàng hóa lỗi thời và xanh hóa khuôn viên các kho hàng.

Thứ hai, giao thông xanh, bao gồm hai khía cạnh: đầu tiên, xe điện sẽ được phát triển và sử dụng để cắt giảm ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm không khí. Tiếp đến, các phương pháp vận chuyển và các tuyến đường sẽ được lên kế hoạch hợp lý để giảm các hiện tượng của vận chuyển trống rỗng và bùng phát, v.v… nâng cao hiệu quả vận chuyển và thực hiện bảo tồn năng lượng và giảm phát thải.

Thứ ba, đóng gói, bao bì xanh, dùng để chỉ yếu tố xanh trong các vật liệu đóng gói, phương pháp đóng gói và quy trình đóng gói. Bao bì xanh chủ yếu được thực hiện qua các phương pháp sau: sử dụng vật liệu bảo vệ môi trường xanh, thay đổi quy mô đóng gói, phương pháp đóng gói và tăng khả năng tải.

Thứ tư, xử lý phân phối xanh. Xử lý phân phối có bản chất sản xuất mạnh mẽ và một khu vực mà bộ phận phân phối thực sự có thể đạt được điều gì đó trong bảo vệ môi trường. Việc thực hiện xử lý phân phối xanh chủ yếu được tiến hành từ hai quan điểm: Đổi mới quy trình, chuyển từ phương thức xử lý thủ công, manh mún sang xử lý chuyên nghiệp, hiện đại; Phát triển, ứng dụng các công nghệ xử lý xanh, hướng đến giảm lượng chất thải phát sinh trong toàn bộ quá trình, từ khâu đóng gói, vận chuyển đến lưu kho.

Thứ năm, xanh hoá khâu bốc xếp và bốc dỡ.  Hoạt động nâng - hạ, xếp - dỡ hàng hóa cần được thực hiện đúng quy trình, đúng tải trọng để tránh hư hỏng hàng hóa, hạn chế phát sinh chất thải và giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, cần loại bỏ các phương thức bốc xếp không phù hợp, tăng cường tính linh hoạt và sử dụng hợp lý các thiết bị, máy móc hiện đại.

Thứ sáu, thu thập thông tin xanh và quản lý. Logistics xanh bao gồm việc thu thập, xử lý hiệu quả các thông tin liên quan trong hệ thống logistics xanh cũng như ứng dụng kịp thời trong quản lý logistics, do đó thúc đẩy hơn nữa logistics xanh. Bên cạnh đó, quá trình tìm kiếm, tích hợp và lưu trữ thông tin cũng cần được thực hiện theo hướng “xanh”, tức là sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm tài liệu giấy và tăng cường chuyển đổi số để đảm bảo bền vững lâu dài.

Thứ bảy, thiết lập logistics ngược theo xu hướng xanh. Ngoài lợi ích kinh tế, logistics xanh theo đuổi mục tiêu dài hạn của tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường bao gồm cả lợi ích kinh tế và môi trường. Giao nhận xanh là rất quan trọng để phát triển kinh tế và xã hội bền vững và giảm doanh nghiệp chi phí hoạt động, v.v…, và đã thu hút sự chú ý nhiều hơn và nhiều hơn nữa.

2.3. Vai trò của logistics xanh

Logistics xanh cung cấp cho công ty một lợi thế cạnh tranh trong xu hướng xã hội và khách hàng quan tâm tới vấn đề phát triển kinh tế cần bảo vệ môi trường. Shrivastava (1996) kết luận, khách hàng đang yêu cầu sản phẩm xanh và đóng gói thân thiện hơn với môi trường. Thiell, Zuluga, Montanez và Hoof (2011) kết luận, vận chuyển của các hoạt động logistics có tác động đáng kể đến môi trường. Theo Wu Haw-Jan và Steven C (1995), lý do tại sao nên “xanh hóa” và sử dụng logistics xanh là do các vấn đề môi trường nghiêm trọng đã phát sinh từ sự tăng trưởng kinh tế. Sự tham gia của logistics xanh vào hệ thống logistics cũng có thể giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí cho cơ sở hạ tầng logistics.

Thứ nhất, khi doanh nghiệp hoặc quốc gia tham gia vào logistics sẽ thu hút vốn đầu tư và nhận được nhiều ưu đãi về nguồn lực, công nghệ. Với logistics xanh, cơ sở hạ tầng phải đáp ứng các tiêu chuẩn xanh ngay từ đầu, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí sửa chữa, bảo trì so với mô hình logistics truyền thống.

Thứ hai, tham gia vào logistics xanh làm tăng hiệu quả sản xuất, do đó sẽ tăng tần suất sử dụng cơ sở hạ tầng, tức là khai thác triệt để được các cơ sở đó. Như vậy, giá thành sẽ rẻ đi nhờ quy luật hiệu suất theo quy mô.

2.4. Định nghĩa về Logistics xanh tại các thành phố

Thành phố là trung tâm cầu nối trong việc thực hiện các tiến bộ khoa học và công nghệ để phát triển triển vọng chiến lược cạnh tranh của sự phát triển bền vững và chất lượng sống tiêu chuẩn. Phát triển bền vững đô thị là sự cố gắng để cân bằng tăng trưởng kinh tế, xây dựng sinh thái, bảo vệ môi trường, tiến bộ xã hội, và những khó khăn của thách thức này đã làm cho nó một trọng tâm chính của nghiên cứu hiện nay trên toàn thế giới. (F. li, X. liu, D. hu, R. Wang, W. Yang, D.Li, D. Zha, 2009).

Logistics sẽ được kết nối chặt chẽ với cấu trúc của thành phố: mạng lưới vận tải, khu đô thị, các nút, ví dụ, kiến trúc và quy hoạch đô thị, cũng như môi trường (Smirnov, 2004). Giá trị của Logistics xanh đô thị như một công cụ để bảo trì sự phát triển bền vững đô thị phát triển; đây là một ví dụ về xã hội hữu ích, lợi nhuận sinh thái kinh doanh và kinh tế, đáp ứng các điều kiện như bảo vệ môi trường và tăng trưởng của hoạt động kinh tế (N. Geroliminis, 2005).

Logistics xanh tại các thành phố được định nghĩa theo nguyên tắc của logistics xanh nhưng khác biệt ở mục tiêu hướng tới để đạt được và duy trì sự phát triển bền vững cho thành phố, giải quyết bài toán lợi ích kinh tế của logistics thành phố với vấn nạn môi trường, nâng cao hiệu quả nguồn lực logistics và cách thức thực hiện phù hợp với đặc điểm riêng của khu đô thị. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của logistics mà giảm thiểu tối đa tác động tới môi trường ở khu đô thị.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính theo hướng khám phá nhằm tìm hiểu sâu sắc các nhân tố tác động đến việc triển khai logistics xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phương pháp định tính phù hợp trong bối cảnh mà mức độ am hiểu, mức độ áp dụng logistics xanh còn khác nhau giữa các doanh nghiệp, đồng thời các yếu tố ảnh hưởng mang tính đa chiều như chính sách, công nghệ, văn hóa doanh nghiệp, hạ tầng đô thị, hay động lực từ khách hàng.

Thiết kế nghiên cứu định tính cho phép khai thác góc nhìn thực tiễn, kinh nghiệm triển khai, rào cản và xu hướng từ phía doanh nghiệp, cơ quan quản lý và chuyên gia - những thông tin mà phương pháp định lượng khó ghi nhận đầy đủ.

2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Kỹ thuật phỏng vấn sâu bán cấu trúc: dữ liệu chính được thu thập thông qua phỏng vấn sâu bán cấu trúc. Hình thức này giúp đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình phỏng vấn, cho phép mở rộng hoặc khai thác sâu các chủ đề liên quan đến logistics xanh, đồng thời vẫn duy trì sự nhất quán giữa các cuộc phỏng vấn.

Đối tượng phỏng vấn: để đảm bảo đa dạng góc nhìn, nghiên cứu phỏng vấn 3 nhóm đối tượng: Nhóm chuyên gia: giảng viên, nhà nghiên cứu về logistics, chuỗi cung ứng, phát triển bền vững; Nhóm cơ quan quản lý: đại diện Sở Công Thương Hà Nội, Sở Giao thông Vận tải, các cơ quan hoạch định chính sách liên quan; Nhóm doanh nghiệp: doanh nghiệp logistics (vận tải, giao nhận, kho bãi), doanh nghiệp thương mại điện tử, bán lẻ có hệ thống logistics nội bộ, doanh nghiệp có áp dụng công nghệ xanh hoặc có định hướng chuyển đổi xanh.

Công cụ phỏng vấn: bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm các nhóm câu hỏi chính: Nhận thức về logistics xanh và mức độ quan trọng; Những yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp/cơ quan lựa chọn thực hiện các giải pháp logistics xanh; Những rào cản và khó khăn trong quá trình triển khai; Đánh giá ảnh hưởng của hạ tầng đô thị, chính sách, chi phí, công nghệ và nhu cầu thị trường; Đề xuất giải pháp hoặc khuyến nghị cho Hà Nội.

3. Kết quả phân tích

3.1. Thực trạng hoạt động logistics của Hà Nội

Hiện nay, mạng lưới giao thông của Hà Nội chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của xã hội. Hệ thống đường sắt có công nghệ lạc hậu, chiếm tỷ trọng quá nhỏ so với tổng nhu cầu vâṇ tải. Đường thủy tỷ trọng vận tải thấp so với tiềm năng do chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên. Giao thông đô thị đang bị quá tải nặng nề, tỷ lệ đáp ứng về vận tải hành khách công cộng rất thấp, chỉ đạt 15% (tiêu chuẩn 40-60%). Hà Nội cần có những định hướng quy hoạch về giao thông đối ngoại, giao thông đô thị theo hướng xanh hóa nhằm thực hiện mục tiêu logistics xanh.

A diagram of a number of people

AI-generated content may be incorrect.

Nguồn: UBND thành phố Hà Nội

Hình 1: Doanh thu vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát 8 tháng 2025

Tháng 8/2025, tổng doanh thu của nhóm ngành logistics ước đạt 21,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025, tổng doanh thu đạt 167,4 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2024.

Hoạt động vận tải hành khách ghi nhận 43,5 triệu lượt người trong tháng Tám, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1,3 tỷ lượt người.km, tăng 3,3% và 18,8%. Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 19,1%. Tính chung 8 tháng năm 2025, số lượt hành khách đạt 332,9 triệu lượt, tăng 19,9%; hành khách luân chuyển đạt 9,7 tỷ lượt người.km, tăng 17,7%; doanh thu đạt 17,2 nghìn tỷ đồng, tăng 17,4%.

Vận tải hàng hóa trên địa bàn Thành phố trong tháng 8 ước đạt 154,7 triệu tấn, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển đạt 15 tỷ tấn.km, tăng 1,4% và 14%. Doanh thu ước đạt 8,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2% và tăng 13,6%. Lũy kế 8 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển đạt 1.206,9 triệu tấn, tăng 12,9%; khối lượng luân chuyển đạt 116,9 tỷ tấn.km, tăng 12,8%; doanh thu đạt 68,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%.

Cùng đó, doanh thu từ hoạt động kho bãi và hỗ trợ vận tải trong tháng ước đạt 9,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, con số này đạt 71,4 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3%. Doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát đạt 1,3 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, tăng 1% so với tháng trước và 14,6% so với cùng kỳ; cộng dồn 8 tháng đạt 10,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2024. (Hình 1)

3.2. Các nhân tố ảnh hưởng

Về nhân tố nội tại doanh nghiệp: Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức và cam kết của lãnh đạo sẽ là yếu tố then chốt. Trong bối cảnh vận tải đường bộ chiếm đến 95% phát thải CO₂, các doanh nghiệp có lãnh đạo định hướng bền vững sẽ ưu tiên đầu tư vào công nghệ tiết kiệm nhiên liệu, phương tiện xanh hoặc tối ưu vận tải nhằm giảm phát thải. Năng lực tài chính là rào cản quan trọng, đặc biệt với SME chiếm phần lớn tại Hà Nội. Năng lực công nghệ cũng sẽ quyết định khả năng áp dụng các giải pháp như tối ưu lộ trình, quản lý đội xe, kho bãi xanh. (Bảng 1)

Bảng 1. Bối cảnh ngành logistics & vận tải Việt Nam

Chỉ tiêu

Giá trị

Tỷ lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ

~75%

Tỷ lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

~12%

Tỷ lệ vận chuyển bằng đường sắt

~2%

Tỷ lệ phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch

~95%

Tỷ lệ phát thải CO₂ từ vận chuyển hàng hóa thuộc đường bộ

~95%

Tổng phát thải CO₂ từ vận tải (2014–2021)

44,2 triệu tấn CO₂e

Mức tăng phát thải vận tải nếu không kiểm soát (dự báo)

Xu hướng tăng mạnh

Nguồn: Kết quả nghiên cứu tổng hợp của tác giả

Về nhân tố công nghệ và kỹ thuật: các số liệu trong Bảng 1 cho thấy, mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (~95% phương tiện). Do đó doanh nghiệp có khả năng đầu tư công nghệ mới (xe điện, xe hybrid, hệ thống quản lý vận tải thông minh) sẽ giảm đáng kể phát thải CO₂. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu là rào cản lớn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Về nhân tố chính sách - pháp lý và quản lý nhà nước: với việc phát thải vận tải đang tăng nhanh, chính sách nhà nước sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển đổi logistics xanh. Các chính sách về giảm phát thải, ưu đãi đầu tư phương tiện sạch, phát triển vận tải đa phương thức… được kỳ vọng sẽ thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi. Ngược lại, sự thiếu đồng bộ hoặc chậm thay đổi của chính sách có thể là rào cản.

Về nhân tố thị trường và các bên liên quan: Áp lực từ khách hàng, đối tác và chuỗi cung ứng lớn (đặc biệt là các doanh nghiệp FDI) nhiều khả năng sẽ thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng giải pháp xanh. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng trả chi phí tăng thêm để “xanh hóa” của khách hàng còn thấp - đây là rào cản thực tế.

Về nhân tố hạ tầng giao thông và điệu kiện đô thị Hà Nội: Dựa trên bối cảnh vận tải đường bộ chiếm ~75% trong lưu chuyển hàng hóa (Bảng 1), theo tác giả, Hà Nội - với mật độ dân cư cao và tình trạng ùn tắc nghiêm trọng - sẽ đối mặt với thách thức lớn khi triển khai logistics xanh. Mạng lưới cơ sở hạ tầng chưa đồng đều, thiếu trung tâm logistics đa phương thức sẽ làm tăng chi phí và giảm hiệu quả giải pháp xanh.

Qua đó có thể thấy, Hà Nội có thể gặp phải những rào cản khi muốn phát triển logistics xanh như: chi phí công nghệ và phương tiện xanh cao; Thiếu chính sách hỗ trợ mạnh mẽ; Hạn chế về hạ tầng logistics đô thị; Nhận thức của khách hàng về dịch vụ xanh chưa đủ cao; Thiếu tiêu chuẩn rõ ràng về “logistics xanh”.

4. Thảo luận, kết luận và một số giải pháp hàm ý chính sách

Thông qua kết quả nghiên cứu định tính, đối chiếu với bối cảnh số liệu và các kết quả nghiên cứu trước đây, có thể thấy rõ bản chất các nhân tố tác động đến logistics xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội.

4.1. Thảo luận

- Logistics xanh tại Hà Nội trong bối cảnh ngành vận tải Việt Nam

Các số liệu ở trên cho thấy hoạt động vận tải - logistics của Việt Nam hiện phụ thuộc mạnh vào đường bộ, với hơn 75% hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ và khoảng 95% phát thải CO₂ từ vận chuyển hàng hóa cũng đến từ đường bộ. Điều này hàm ý rằng ở một đô thị đặc thù như Hà Nội - nơi mật độ dân số, mật độ phương tiện và tình trạng tắc nghẽn đều cao - áp lực lên môi trường và hạ tầng càng lớn.

Như vậy, logistics xanh không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm giảm phát thải, nâng cao hiệu quả vận chuyển, giảm tắc nghẽn và hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững của thành phố.

Điều này tương thích với các nghiên cứu quốc tế về logistics xanh trong đô thị, đặc biệt trong các thành phố lớn ở châu Á như Bangkok, Manila, Jakarta - nơi mật độ giao thông và phụ thuộc vào vận tải đường bộ tương tự.

- Về nhóm nhân tố nội tại doanh nghiệp

Kết quả cho thấy, nhận thức và cam kết của lãnh đạo doanh nghiệp là nhân tố có vai trò then chốt. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước như Sbihi & Eglese (2010), khi nhấn mạnh cam kết từ lãnh đạo là động lực chính dẫn đến đầu tư xanh trong vận tải.

Tại Hà Nội, phần lớn doanh nghiệp logistics là vừa và nhỏ (SME), năng lực tài chính hạn chế, nên dù nhìn thấy lợi ích của logistics xanh, họ vẫn khó triển khai. Điều này giải thích vì sao mức “sẵn sàng xanh hóa” của doanh nghiệp còn thấp dù áp lực môi trường cao.

Một số doanh nghiệp lớn hoặc có vốn FDI (như Shopee Logistics, Lazada Logistics, DHL, Maersk) thường tiên phong hơn trong việc áp dụng kho bãi năng lượng thấp, xe điện giao hàng chặng cuối. Tuy nhiên, SME - nhóm doanh nghiệp chiếm số lượng lớn nhất tại Hà Nội - lại là nhóm quyết định tốc độ lan tỏa của logistics xanh nhưng ít khả năng đầu tư.

- Về nhân tố công nghệ - kỹ thuật

Kết quả nghiên cứu cho thấy, công nghệ là một trong những nhân tố mạnh nhất tác động đến logistics xanh. Điều này phù hợp với xu hướng toàn cầu: logistics xanh gắn liền với số hóa, tự động hóa, xe điện, IoT và tối ưu hóa vận tải. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam: Chi phí đầu tư xe điện tải, pin, hệ thống sạc còn cao, độ phủ trạm sạc chưa đáp ứng vận tải hàng hóa, kho bãi xanh đòi hỏi đầu tư lớn về trang thiết bị và quy hoạch. Điều này dẫn đến khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp lớn và SME ngày càng rõ rệt.

Đối với Hà Nội, đặc thù đô thị đông đúc khiến tiềm năng ứng dụng xe điện giao hàng chặng cuối là khả thi, nhưng giao hàng liên tỉnh hoặc trung chuyển thì khó hơn.

- Về nhóm chính sách - pháp lý

Nhân tố chính sách đóng vai trò “bệ đỡ” cho doanh nghiệp nhưng hiện nay nhiều chính sách về logistics xanh ở Việt Nam còn mang tính định hướng hơn là tạo động lực cụ thể. Kết quả phản ánh đúng thực trạng: chính sách ưu đãi thuế/phí cho phương tiện xanh chưa rõ ràng, quy hoạch trung tâm logistics của Hà Nội chưa hoàn thiện, chính sách giao thông đô thị chưa đồng bộ với mục tiêu xanh. Các nghiên cứu trong nước trước đây cũng chỉ ra logistics xanh chỉ phát huy hiệu quả khi có cơ chế khuyến khích đủ mạnh, ví dụ: ưu đãi đổi xe, hỗ trợ lãi suất cho đầu tư công nghệ xanh, ưu tiên luồng xanh cho xe điện hoặc xe phát thải thấp…

- Về nhân tố thị trường và các bên liên quan

Một điểm đáng chú ý trong kết quả dự kiến là mức độ chấp nhận chi phí xanh của khách hàng tại Việt Nam còn thấp. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn: khách hàng thường ưu tiên “nhanh - rẻ” hơn là “xanh - bền vững”. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp lớn trong chuỗi cung ứng quốc tế (như thời trang, điện tử, thương mại điện tử xuyên biên giới), yêu cầu xanh hóa từ đối tác nước ngoài ngày càng mạnh, tạo sức ép kéo theo các doanh nghiệp logistics nội địa. Điều này dự báo, “logistics xanh” có thể lan tỏa theo hướng từ trên xuống (top-down), do sức ép chuỗi cung ứng toàn cầu.

- Về nhân tố hạ tầng đô thị Hà Nội

Hạ tầng đô thị được dự báo là rào cản quan trọng nhất: Hà Nội thường xuyên ùn tắc, hạn chế tốc độ di chuyển, các tuyến kết nối liên tỉnh còn chưa đồng bộ, thiếu trung tâm logistics hiện đại ở cửa ngõ. Đặc biệt, cơ cấu vận tải quá phụ thuộc đường bộ khiến việc giảm phát thải khó đạt hiệu quả. Điều này phù hợp với số liệu quốc gia nêu ở Bảng 1. Vì vậy, nếu Hà Nội muốn đẩy mạnh logistics xanh, cần chuyển sang mô hình logistics đa phương thức, giảm tải cho đường bộ, ví dụ: tăng vận tải đường sắt, đường thủy, trung chuyển bằng xe điện tại trung tâm thành phố.

4.2. Một số giải pháp hàm ý chính sách

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, tác giả đưa ra một số giải pháp hàm ý chính sách nhằm phát triển logistics xanh trên địa bàn Hà Nội như sau: 

- Với cơ quan nhà nước:

Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phương tiện xanh: tạo cơ chế ưu đãi thuế, phí và lãi suất cho doanh nghiệp đổi mới phương tiện vận tải thân thiện môi trường; Khuyến khích phát triển xe điện, xe hybrid cho vận chuyển hàng hóa trong đô thị; Giảm chi phí ban đầu là yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia.

Phát triển cơ sở hạ tầng logistics đa phương thức tại Hà Nội: Xây dựng trung tâm logistics tại các cửa ngõ thành phố để giảm áp lực giao thông nội đô; Phát triển hạ tầng đường sắt, đường thủy, tích hợp với vận tải đường bộ để giảm phụ thuộc vào đường bộ (~75% lượng hàng hóa hiện nay); Hỗ trợ các giải pháp lưu kho xanh, kho tự động và kho tiết kiệm năng lượng.

Đặt tiêu chuẩn và quy chuẩn về logistics xanh: Xây dựng hướng dẫn, tiêu chuẩn “logistics xanh” áp dụng cho doanh nghiệp tại Hà Nội; Định nghĩa rõ ràng các chỉ số phát thải, hiệu quả năng lượng, và phương tiện, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp thực hiện.

Thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) trong logistics xanh: Khuyến khích liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp và chính quyền trong phát triển hạ tầng, trung tâm logistics và ứng dụng công nghệ xanh.

- Với các doanh nghiệp

Đầu tư vào công nghệ và tối ưu vận tải: Áp dụng phần mềm quản lý vận tải, tối ưu lộ trình, kho bãi thông minh; Sử dụng xe điện cho giao hàng chặng cuối trong đô thị để giảm phát thải CO₂.

Xây dựng chiến lược bền vững dài hạn: Kết hợp lợi ích kinh tế với môi trường: giảm chi phí vận hành, tăng hình ảnh thương hiệu. Cam kết từ lãnh đạo là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi mô hình vận tải truyền thống sang xanh (Sbihi & Eglese, 2010).

Tăng cường nhận thức và hợp tác chuỗi cung ứng: Phối hợp với khách hàng và đối tác để tạo động lực thực hiện logistics xanh: Thực hiện các sáng kiến “green logistics” trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng yêu cầu của đối tác nước ngoài.

4.3. Kết luận

Thông qua nội dung bài viết, tác giả làm rõ vai trò của logistics xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội, chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng chính tới phát triển logistics xanh cũng như những rào cản mà Hà Nội gặp phải. Cùng với đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp hàm ý chính sách để đẩy mạnh phát triển logistics xanh trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên, trong nội dung nghiên cứu này, tác giả mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính nên chưa thể khái quát cụ thể những nhân tố ảnh hương đến phát triển logistics xanh trên địa bàn Hà Nội. Trong những nghiên cứu tới, tác giả sẽ mở rộng hơn để khảo sát, phân tích dữ liệu cũng như so sánh giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để từ đó có những đánh giá cụ thể về lợi ích của logistics xanh.

Tài liệu tham khảo:

Li, F., Liu, X., Hu, D., Wang, R., Yang, W., Li, D., & Zhao, D. (2009). Measurement indicators and an evaluation approach for assessing urban sustainable development: A case study for China's Jining City. Landscape and urban planning, 90(3-4), 134-142.

Geroliminis, N., & Daganzo, C. F. (2005). A review of green logistics schemes used in cities around the world.

Sbihi, A., & Eglese, R. W. (2010). Combinatorial optimization and green logistics. Annals of Operations Research, 175(1), 159-175.

Smirnov, A., Pashkin, M., Chilov, N., & Levashova, T. (2004). Knowledge logistics in information grid environment. Future Generation Computer Systems, 20(1), 61-79.

Thiell, M., Zuluaga, J. P. S., Montañez, J. P. M., & van Hoof, B. (2011). Green logistics: Global practices and their implementation in emerging markets. In Green finance and sustainability: Environmentally-aware business models and technologies (pp. 334-357). IGI Global.

Vasan, R. S., Shrivastava, S., Vijayakumar, M., Narang, R., Lister, B. C., & Narula, J. (1996). Echocardiographic evaluation of patients with acute rheumatic fever and rheumatic carditis. Circulation, 94(1), 73-82.

Wu, H. J., & Dunn, S. C. (1995). Environmentally responsible logistics systems. International journal of physical distribution & logistics management, 25(2), 20-38.

Website: https://hanoi.gov.vn/kinh-te-xa-hoi-thu-do/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-thang-tam-va-8-thang-nam-2025-cua-thu-do-ha-noi-4250908083330513.htm.

Factors influencing the development of green logistics in Hanoi

Vu Thi Minh Ngoc

Department of Transport Economics, University of Transport Technology

Abstract:

This study investigates the key factors influencing the development of green logistics in Hanoi. Based on empirical analysis, the findings identify six major groups of determinants: (1) internal enterprise factors, including leadership commitment, financial capability, and operational management; (2) technological and engineering conditions, such as green vehicles, intelligent transport management, and IoT applications; (3) governmental policies and regulatory frameworks, including green standards, tax incentives, and infrastructure planning; (4) market forces and stakeholder expectations, driven by customer requirements and global supply chain pressures; (5) Hanoi’s infrastructure and urban characteristics, particularly traffic congestion and logistics facility networks; and (6) the level of sustainability awareness and organizational culture within enterprises. The study provides a valuable reference for policymakers and businesses in formulating strategies to accelerate the green transition of the logistics sector in Hanoi.

Keywords: green logistics, impact factors, Hanoi, sustainable development, logistics technology, urban infrastructure, support policies.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 32 năm 2025]

Tạp chí Công Thương