PV: Xin ông phác thảo đôi nét về tình hình chung của ngành Thép trước khi thực thi gói kích cầu của Chính phủ?
Ông Phạm Chí Cường: Năm 2008, nhằm mục tiêu đẩy lùi lạm phát và ổn định kinh tế, Chính phủ đã thực thi một số giải pháp quan trọng như kiểm soát chặt chẽ các dự án đầu tư, cắt giảm hoặc giãn tiến độ các dự án không có hiệu quả, kiểm soát tín dụng của các ngân hàng, nâng lãi suất cho vay... khiến cho nhiều dự án xây dựng phải đình hoãn hoặc kéo dài thời gian. Điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều công ty cán thép không tiêu thụ được hàng. Thêm vào đó, Bộ Tài chính đã tăng thuế xuất khẩu phôi thép từ 10% lên 20% từ ngày 10/8/2008 (trước đó là tăng 2% lên 10% từ 28/6/2008)... Các doanh nghiệp sản xuất phôi thép đã rơi vào tình trạng “bí đầu ra”, thiếu vốn, vô cùng bức xúc. Thực tế, vốn nhập phôi thép của các doanh nghiệp thép đều là vốn vay ngắn hạn, nên khi nhu cầu trong nước giảm do áp dụng các biện pháp kiềm chế lạm phát, thì lối thoát duy nhất của các doanh nghiệp là xuất khẩu phôi thật nhanh để thu hồi vốn trả cho ngân hàng, tránh phát sinh thêm nợ lãi. Do vậy, với quyết định tăng thuế xuất khẩu, các doanh nghiệp vẫn phải xuất khẩu phôi, dù lỗ nặng. Có nghĩa là, quyết định tăng thuế đã không ngăn được dòng phôi xuất khẩu, mà ngược lại đã đẩy các doanh nghiệp vào tình thế thiệt hại lớn hơn. Sau đó, thuế đã được giảm xuống mức 10%, rồi 5% và cuối cùng là 0% kể từ ngày 7/11/2008. Nói chung, vào thời điểm cuối năm 2008, ngành Thép vô cùng lao đao, lên bổng xuống trầm... Sang năm 2009, nhiều chuyên gia kinh tế đã nhận định, ngành Thép sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều do doanh nghiệp sản xuất thép còn tồn kho với số lượng lớn phôi thép, thép phế giá cao. Đặc biệt, trong những tháng 1-2/2009, tiêu thụ rất thấp, giá bán thấp hơn giá thành, thép cuộn 6 - 8 ở mức từ 9,4 - 10,2 triệu/tấn, thép cây 6 - 8 ở mức từ 10,2 - 10,6 triệu/tấn đã làm cho nhiều doanh nghiệp lao đao, có nơi ngừng sản xuất kéo dài....
PV: Tình hình đã thay đổi như thế nào sau khi Chính phủ thực thi gói kích cầu, thưa ông?
Ông Phạm Chí Cường: Trái với những dự báo không mấy khả quan trước đây, ngành công nghiệp Thép Việt Nam hiện đang có những dấu hiệu phát triển tích cực. Điều này thực sự là một bất ngờ. Chúng tôi cứ tưởng, suy giảm kinh tế sẽ làm cho mức tiêu thụ thép thấp đi so với năm 2008, nhưng sau 10 tháng, tiêu thụ thép của toàn Hiệp hội đạt 3.286.120 tấn, so với cùng kỳ 2008 tăng 33,85%, vượt khá nhiều so với hy vọng. Đây là một kết quả ngoài sự mong đợi mà gói kích cầu của Chính phủ đã mang lại cho ngành Thép.
Khi gói kích cầu chuyển động, ngành Thép được Chính phủ, Bộ Công Thương quan tâm và đã có một số biện pháp điều chỉnh cơ chế chính sách, tháo gỡ khó khăn cho Ngành như: Tăng thuế nhập khẩu phôi thép từ 5% lên 8%, thép xây dựng từ 12% lên 15%; thép cuộn cán nguội từ 7% lên 8%; thuế nhập khẩu thép hợp kim chứa Bo dùng làm thép xây dựng tăng từ 0% lên 10%, cáp thép tăng từ 0% lên 3%... Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã có biện pháp kịp thời ổn định tỷ giá USD/VND, điều chỉnh chính sách ưu tiên nguồn đô la Mỹ để nhập khẩu phôi thép, thép phế liệu và một số vật tư nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước.
PV: Những ưu đãi từ gói kích cầu của Chính phủ đối với ngành Thép chỉ là gián tiếp. Vậy ngành Thép đã thực hiện những giải pháp nào để tận dụng hiệu quả những tác động mà gói kích cầu mang lại?
Ông Phạm Chí Cường: Tác động của gói kích cầu Chính phủ tới ngành Thép giống như hiệu ứng đôminô. Thứ nhất, sau khi Nhà nước rà soát lại tất cả các dự án đầu tư, dự án nào có hiệu quả, phát huy tác dụng tốt cho nền kinh tế thì sẽ tiếp tục đầu tư vốn và được hỗ trợ bằng lãi suất thấp, các điều kiện tín dụng thuận lợi để có thể triển khai nhanh chóng các dự án đó. Vì thế nên các dự án xây dựng, làm nhà ở cho người thu nhập thấp, công nhân các khu công nghiệp, học sinh, sinh viên thì đã có được điều kiện tín dụng rất thuận lợi. Được vậy, họ triển khai xây dựng, tạo điều kiện cho đầu ra, cho tình hình tiêu thụ thép của chúng tôi thuận lợi hơn. Thứ hai, những công trình đầu tư thép của chúng tôi vẫn tiếp tục được Nhà nước hỗ trợ để mở rộng. Nói chung, các công ty thép trong nước mà vẫn tiếp tục đầu tư thì Nhà nước vẫn tiếp tục hỗ trợ về địa điểm, về mọi điều kiện thuận lợi để cho họ có thể tiếp tục mở rộng sản xuất trong nước. Nhiều công ty tư nhân đã được hỗ trợ rất nhiều để mở rộng sản xuất. Đương nhiên, những khó khăn chung của đất nước thì ngành nào cũng phải chịu đựng, ví dụ các điều kiện về vốn ngoại tệ, các chính sách về thuế..., nếu cái gì được ưu đãi của Nhà nước, thì các ngành có liên quan giải quyết kịp thời. Năm nay, thuế VAT của chúng tôi sẽ là 10%, nhưng do nền kinh tế khó khăn nên chúng tôi vẫn được hưởng 5% như các năm trước, chưa tăng. Đại loại những chính sách như vậy đã giúp cho ngành Thép qua cơn suy thoái.
PV: Đến thời điểm không còn nguồn vốn của Nhà nước, các gói kích cầu đã cạn, theo ông, ngành Thép Việt Nam có thể tiếp tục đứng vững và phát triển bền vững?
Ông Phạm Chí Cường: Đó là một câu hỏi lớn đặt ra chẳng riêng gì với ngành nào. Riêng với ngành Thép đã vận hành theo quy luật của thị trường rất sớm, không được hưởng ưu đãi nào quá đặc biệt, chưa kể còn là một trong những mặt hàng nằm trong diện bình ổn giá mà Chính phủ quy định. Do đó xét một mặt nào đó, chúng tôi luôn bị “thiệt”.
Thực tế thời gian qua, mặc dù ngành Thép được hưởng lợi nhờ gói kích cầu của Chính phủ, nhưng đó là những ưu đãi chung, giống như nhiều ngành khác, do đó, bên cạnh nhiều doanh nghiệp vượt qua được khó khăn, thậm chí có lãi cao, thì chúng tôi vẫn có một số doanh nghiệp bị thất bại. Như tôi đã nói, chính sách kích cầu của Chính phủ là tìm mọi cách thúc đẩy, tạo đà cho các ngành phát triển, từ đó, ngành Thép “ăn theo”, chứ Thép không phải là đối tượng được trực tiếp thụ hưởng gói kích cầu. Vì vậy, những nghi ngờ về tương lai ảm đạm của ngành Thép khi mất đi “bầu sữa” của Chính phủ là không cần thiết, bởi vì thị trường có những quy luật riêng, bình đẳng và không khoan nhượng. Ngành Thép sẽ vẫn tồn tại theo quy luật này dù thăng hay trầm.
PV: Xin cảm ơn ông!
