Nước mắt về nguồn
Hành trình Về nguồn của 43 đoàn viên thanh niên Bộ Công nghiệp được bắt đầu hơi muộn- khi mà Hà Nội đã tạm quên đi cái nóng bức, oi ả của mùa hè, để choàng lên vai những chiếc khăn quàng của mùa thu chớm lạnh. Mầu áo xanh tình nguyện đã không còn bừng lên những sắc nắng, mà đã nhẹ nhàng như những chiếc lá, chúng tôi cùng nhau rong ruổi theo cuộc hành trình tìm về nguồn cội. Khởi hành từ 7h sáng, đến giữa trưa thì 3 chiếc xe 15 chỗ ngồi cùng 43 đoàn viên đã đặt chân đến thành phố Vinh. Bầu trời lúc này xanh và cao vời vợi. Quáng quàng ăn trưa, nghỉ ngơi, 2h chiều, chúng tôi bắt đầu lên xe về thăm quê Bác.
Trước khi vào thăm quan nhà Bác, hưởng ứng tháng Hành động vì người nghèo, Đoàn Thanh niên Bộ Công nghiệp tổ chức trao quà cho 15 em học sinh nghèo vượt khó của làng Kim Liên. Tại Nhà văn hoá của làng, buổi lễ được diễn ra trong bầu không khí ấm áp, xúc động, rất đỗi thiêng liêng. Khi bài hát “Bụi phấn” được cô phụ trách của các em cất lên cao vút, đoàn chúng tôi tự lúc nào đã đứng lên, vai kề vai, cùng vỗ tay hát theo vang trời...
Bước qua cánh cổng tre đơn sơ, không khí trong đoàn bỗng trầm hẳn xuống. Thành kính, trang nghiêm, đồng chí Bí thư chi đoàn Nguyễn Văn Công thay mặt cả đoàn dâng lên Người bó hoa tươi thắm. Chúng tôi bị hút vào câu chuyện về tuổi thơ của vị cha già thân yêu nơi quê ngoại. Thật xúc động biết bao khi được biết rằng, nơi đây, tại căn nhà đầu tiên, trên chiếc tràng kỷ này, ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan đã làm lễ tơ hồng kết duyên chồng vợ trong tình thương mến của bà con làng xóm. Còn căn nhà phía sau, bé nhỏ và đơn sơ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cùng các chị, các em đã ra đời. Đây là chiếc khung cửi thân thương mà mẹ Bác đã gắn bó cả đời mình. Kia là chiếc võng ầu ơ bà đưa các con vào giấc ngủ. Và chiếc rương gỗ, kỷ vật của một thời con gái mà bà Loan trân trọng giữ gìn. Sau này, khi trở về quê hương sau hơn 30 năm xa nhà, Bác Hồ của chúng ta đứng lặng, ngậm ngùi, tay mân mê chiếc rương, tìm lại những dấu tay thân thương của cha mẹ, anh chị em, nói trong nước mắt “Các cô các chú thật khéo giữ, chiếc rương này đã hơn 30 năm rồi...”. Hơn 30 năm, biết bao nhiêu ngày tháng. Khi ra đi, Người chỉ là một cậu bé, lúc trở về, tóc đã pha sương, cảnh vật vẫn còn mà người thì đã đi xa.... Như cùng giao hoà trong một bản nhạc, câu chuyện về Bác được kể bằng giọng nói dịu dàng, thấm đẫm tình cảm của người con gái xứ Nghệ đã hoà cùng nỗi niềm xúc động trong chúng tôi. Và đã có những giọt nước mắt, những tiếng thổn thức...
Xuôi theo con đường trải nhựa, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình với điểm đến tiếp theo là Làng Sen- quê nội Bác Hồ. Đây là ngôi nhà mái lá đơn sơ mà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trở về sống cảnh nhà gà trống nuôi con sau cái chết đau buồn của người vợ thân yêu. Nhân dân Làng Sen đã xây dựng tại đây một nhà tưởng niệm khang trang. Trong giây phút thành kính, Đoàn Thanh niên Bộ Công nghiệp đã làm lễ báo công với Người, xin hứa sẽ trọn đời đi theo lý tưởng của Người, góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc làm giầu cho quê hương, đất nước. Cuộc sống mưu sinh chóng mặt đã cuốn chúng tôi theo những vòng xoáy, đã rất lâu, hôm nay, khi đứng trước Người, chúng tôi mới được đối diện với chính mình, với chính nhân cách của mình. Đó cũng là ý nghĩa lớn lao của chuyến hành trình về nguồn lần này.
Niềm vui tuổi trẻ
Lúc này, trời đã sâm sẩm tối. Xe chúng tôi hối hả trở về khách sạn Hoa Phượng Đỏ tranh thủ nghỉ ngơi để lấy sức cho buổi giao lưu tối nay với Công ty Dịch vụ công nghiệp Nghệ An. Đồng hồ đã chỉ 7h kém 15’. Bí thư Nguyễn Văn Công ra “chỉ thị”: ăn tối trong vòng nửa tiếng, nghỉ ngơi một lúc, 7h 30 chúng ta lên đường. Chỉ có nửa tiếng đồng hồ, song cũng đủ cho nhóm thanh niên chúng tôi vừa ăn vừa trêu trọc nhau như một lũ trẻ. Những điệu cười hỉ hả của các anh chàng ục ịch đến từ Tổng công ty Thép. Còn mấy cô gái bẽn lẽn ở Công ty Phụ gia dầu mỏ vừa ý nhị che mồm, vừa trêu lại các anh dẻo mỏ ở Viện Chiến lược Chính sách Công nghiệp... Thỉnh thoảng, bàn ghế, bát đũa, cốc chén lại rung lên bần bật trước những tiếng “Dzô” vang dội...
Tạm dừng cuộc vui, 3 chiếc xe ô tô lại cần mẫn chở chúng tôi ra khỏi thành phố Vinh 9 km. Đoàn Thanh niên Công ty dịch vụ công nghiệp Nghệ An tiếp đón chúng tôi thật nhiệt tình. Trong hội trường, phông màn rực rỡ, đàn organ tưng bừng, hoa và người như trảy hội. Vui nhất là trong nhóm khán giả “không chuyên” có cả những cụ bà lưng còng, răng đen, hoà cùng lũ trẻ con cũng háo hức ngồi chờ từng tiết mục ca nhạc. “Người con gái sông La”, “Ta thương nhau gừng cay muối mặn”, “Lời của gió”.... lần lượt vang lên trong tiếng hò reo cổ vũ của mọi người. Không có khoảng cách chủ- khách, Phó Giám đốc Sở Công nghiệp, Phó Giám đốc Công ty, Bí thư Đoàn Công ty... lần lượt nâng ly mời các đoàn viên. Niềm vui bừng lên trong mỗi đôi mắt, nụ cười, chuếnh choáng rượu vang. Trời càng tối, cuộc chơi càng trở nên sôi nổi. Nắm tay nhau, chúng tôi hát những bài ca về Đoàn, về thanh niên, tuổi trẻ, tình yêu... thậm chí, cả nhạc thiếu nhi! Chia tay nhau, các chàng trai, cô gái tiễn chúng tôi ra tận xe, lời hát “Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh” cứ vấn vương mãi...
Ngã ba đồng Lộc
6h sáng hôm sau, trời Vinh âm u với trận mưa sụt sùi từ đêm. Nét thất vọng hiện lên khuôn mặt mọi người. May quá, tới 7h 30, ăn sáng xong thì mưa tạnh. Nỗi vui mừng nhanh chóng bị nhường lại cho sự phấp phỏm trước chặng đường 60km tiếp theo về Ngã ba Đồng Lộc thần kỳ.
Xe đi ngang qua Quảng trường Hồ Chí Minh hùng vĩ. Chúng tôi rẽ vào dâng hoa, thăm quan và chụp ảnh kỷ niệm. Hiên ngang giữa trời đất thành Vinh sôi động, Người cha già dân tộc đứng đây như chỉ bảo, đôn đốc, nhắc nhở con em mình vững bước trong thời kỳ mới. Quảng trường thật đẹp, xứng đáng là nơi tập trung những tinh hoa, khí lực của mảnh đất Nghệ An địa linh nhân kiệt.
Trước khi về với Ngã ba Đồng Lộc, chúng tôi ai cũng từng nghe, từng biết về truyền thống lịch sử yêu nước của nhân dân Hà Tĩnh, và đặc biệt xúc động trước những tấm gương chiến đấu anh dũng của thế hệ đàn anh. Nhưng chỉ đến khi đặt chân lên đường 15A, bước vào không gian thanh vắng của thị trấn Can Lộc, chúng tôi mới thực sự hiểu thế nào là chiến tranh, thế nào là hy sinh, mất mát. Đường Đèo Ngang, Khe Giao, Linh Cảm... những địa danh quen thuộc đã bước ra từ những bài hát. Chúng tôi đang đứng đây, chân chạm mặt đường rát bỏng. Đồi phủ xanh những hàng thông, lác đác vài em bé nhặt củi, nô đùa chạy trên đồi. Cảnh vật thanh bình quá! Chỉ ý nghĩ về thời điểm cách đây hơn 30 năm, nơi này là một mặt trận, bom đạn cày nát đất, bom chồng lên bom, đất chảy máu, bói không ra một bóng cây, ngọn cỏ... cũng đã đủ làm đau lòng. Thời gian đủ để tạo nên lớp da non trên những vết thương, song niềm đau trong tim thì vẫn như ngày nào!
Tiếp chúng tôi là anh Tuân, đại diện Ban quản lý di tích và một chàng trai xứ Nghệ có chất giọng diễn cảm như một phát thanh viên. Câu chuyện của anh đã đưa chúng tôi về với Ngã ba Đồng Lộc đau thương mà anh dũng của hơn 30 năm trước đây. 10 cô gái xuân xanh chưa cả một lần yêu đã ngã xuống cho mảnh đất này vào buổi chiều 24.7.1968, một ngày hè nắng gắt khi tuổi đời còn rất trẻ. Võ Thị Tần- tiểu đội trưởng, Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ nhiều tuổi nhất cũng mới chỉ 24. Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Trần Thị Hường, Hà Thị Xanh, Trần Thị Rạng và Võ Thị Hà thì mới chưa tròn hai mươi, cuộc đời như ánh nắng ban mai. Các chị, mỗi người đến từ mỗi hướng, song đã gặp nhau tại một ngã ba định mệnh, cái ngã ba đã cùng các chị làm nên huyền thoại- Ngã ba Đồng Lộc. Là người Việt Nam, không ai trong chúng ta nén được tiếng khóc khi đọc những vần thơ rưng rưng nước mắt của tác giả Yến Thanh:
Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang
Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ hết
Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh
A trưởng Võ Thị Tần đã điểm danh
Chỉ thiếu mình em
Chín bỏ làm mười răng được...
Sau 3 ngày tìm kiếm, chị Hồ Thị Cúc đã được đồng đội tìm thấy trên đồi Trọ Voi trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay bị ứa máu vì bới đất để tìm đường ra trong tuyệt vọng. Vượt lên mọi nỗi đau thương, mất mát, sự hy sinh anh dũng của các chị đã trở thành huyền thoại, Ngã ba Đồng Lộc trở thành một “ngã ba vận mệnh trên chặng đường quyết liệt” như nhà thơ Huy Cận đã từng khẳng định trong một bài thơ.
Chúng tôi, những Đoàn viên thanh niên, người nhiều nhất đã đi qua lứa tuổi của các chị khoảng 10 năm, người ít thì cũng bằng số tuổi đó, hôm nay, về với Ngã ba Đồng Lộc, bỗng cảm thấy cần phải sống và làm việc sao cho xứng đáng hơn nữa với sự hy sinh cao cả ấy của các chị. ấp trong tim tình cảm khâm phục đó, cuộc hành trình về nguồn của chúng tôi rung lên những nhịp đầy xúc cảm. Trở về nguồn để thêm yêu mến, trân trọng cuộc sống, cùng nhau hướng về tương lai, cuộc hành trình Về nguồn đã in đậm trong tâm trí những đoàn viên Đoàn Thanh niên chúng tôi tình yêu quê hương, đất nước.
